Trước một đoạn truyện, đề Văn thường hỏi hai việc rất gần nhau nhưng không phải một: ai đang kể (ngôi kể) và câu chuyện được nhìn từ chỗ nào (điểm nhìn trần thuật). Ta phải tách rõ ngay từ đầu, vì gộp lại là mất điểm ở cả hai.
Nói cách khác: ngôi kể là giọng nói, điểm nhìn là chỗ đặt máy quay. Một truyện ngôi thứ ba vẫn có thể đặt máy quay hẳn trong đầu một nhân vật. Đó là lý do có những đoạn đọc lên tưởng như nhân vật đang tự kể chuyện mình, mà thật ra chữ “tôi” không hề xuất hiện.
Thấy chữ “tôi” trong lời kể thì gọi được ngay là ngôi thứ nhất. Nhưng đề ít khi dừng ở đó — câu hỏi thật thường là: “tôi” giữ vai gì. Hai vai này cho ra hai hiệu quả khác hẳn nhau.
| Dấu hiệu tìm trong văn bản | “Tôi” là nhân vật chính | “Tôi” là người chứng kiến |
|---|---|---|
| Biến cố lớn nhất của đoạn rơi vào ai | rơi vào chính “tôi” | rơi vào một người khác |
| Ý nghĩ, cảm giác được nói ra là của ai | của “tôi” | của “tôi”, nhưng chỉ là ý nghĩ khi quan sát người khác |
| Người khác trong truyện được biết tới bằng cách nào | qua quan hệ với “tôi” | qua việc “tôi” nhìn thấy, nghe kể lại |
| Chỗ trống trong truyện | ít, vì “tôi” biết đời mình | nhiều, vì “tôi” không vào được đầu người kia |
Phép thử nhanh: hỏi xem bỏ nhân vật “tôi” đi thì còn truyện không. Nếu bỏ “tôi” mà câu chuyện vẫn còn nguyên số phận của một người khác thì “tôi” chỉ là người chứng kiến. Nếu bỏ “tôi” là mất luôn truyện thì “tôi” là nhân vật chính.
Ngôi thứ ba không phải một khối đồng nhất. Phải chia tiếp làm hai, và đây là chỗ đề hay hỏi:
Muốn phân biệt, ta đếm số nhân vật mà lời kể vào được bên trong. Một là hạn tri, từ hai trở lên là toàn tri. Đây là phép đếm, không phải cảm nhận, nên trả lời được chắc chắn.
Điểm nhìn bên ngoài là lối kể chỉ ghi lại cái mà một người ngoài cuộc thấy được: dáng đi, cử chỉ, việc làm, lời nói thành tiếng. Điểm nhìn bên trong là lối kể để lộ cái không nhìn thấy: ý nghĩ, cảm giác, nỗi sợ, sự tính toán thầm.
Sơ đồ trên gói lại toàn bộ phần đã nói: cột trái là câu hỏi “ai kể”, cột phải là câu hỏi “nhìn từ đâu”. Hai cột đọc độc lập với nhau, và mũi tên ở giữa cột phải nhắc rằng điểm nhìn có thể đi vào rồi lùi ra ngay trong một đoạn ngắn.
Chỗ khó nhất của chương này là nhận ra lúc điểm nhìn đang chuyển. Dấu hiệu đáng tin nhất là lời nửa trực tiếp: một câu bề ngoài vẫn là câu tường thuật của người kể, không có dấu gạch đầu dòng, không có dấu ngoặc kép, nhưng từ ngữ và giọng điệu lại là của nhân vật.
Ba dấu hiệu nhỏ giúp bắt được lời nửa trực tiếp:
Phép thử cuối cùng ấy rất tiện: thử thêm “nhân vật nghĩ:” vào trước câu. Nếu câu vẫn tự nhiên và nghĩa không đổi thì đó là lời nửa trực tiếp, tức điểm nhìn đã vào trong.
Truyện khác thơ ở chỗ nó dựng lên một thế giới có người kể đứng giữa người đọc và sự việc. Người đọc không nhìn thẳng vào sự việc, mà nhìn qua vai người kể. Vì vậy mọi thứ ta biết đều đã qua một lần chọn lọc: cái gì kể ra, cái gì bỏ đi, cái gì nói trước, cái gì để mãi sau mới nói. Xác định ngôi kể và điểm nhìn chính là xác định khuôn cửa mà tác giả cho ta nhìn qua. Đó là đặc trưng thể loại của truyện, nên đọc truyện mà bỏ qua khuôn cửa ấy thì chỉ còn tóm tắt cốt truyện.
Hai trường hợp làm hỏng phép đọc trên, và đề rất hay lấy đúng hai trường hợp này:
Ở phần Đọc hiểu, câu hỏi về ngôi kể thường là câu 0,5 điểm, câu hỏi về điểm nhìn và tác dụng thường là câu 1,0 điểm. Ta cần biết barem đếm ý thế nào để viết vừa đủ:
Đọc đoạn trích sau và cho biết đoạn được kể ở ngôi nào, điểm nhìn đặt ở đâu:
“Tôi ở trọ nhà ông Chản gần một năm. Sáng nào ông cũng dắt chiếc xe đạp ra cổng, lau lại cái yên đã rách, rồi đứng thần ra một lúc mới đi. Tôi hỏi ông đi đâu sớm thế, ông chỉ bảo đi có việc.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – trích truyện ngắn “Chiếc xe đạp của ông Chản”)
Ta gạch chân các đại từ nằm trong lời kể, bỏ qua lời thoại. Câu đầu có “Tôi ở trọ”, câu thứ ba có “Tôi hỏi ông”. Chữ “tôi” nằm trong chính lời kể, vậy đoạn trích kể ở ngôi thứ nhất.
Ta thử bỏ nhân vật “tôi” đi. Câu chuyện còn lại vẫn nguyên: một ông già sáng nào cũng lau chiếc yên rách rồi đứng thần ra. Biến cố thuộc về ông Chản, không thuộc về “tôi”. Vậy “tôi” chỉ là người chứng kiến, kể lại chuyện của người khác.
Câu hai chỉ ghi các việc nhìn thấy được: dắt xe, lau yên, đứng thần. Câu ba ghi một lời nói thành tiếng. Không có câu nào nói ông Chản đang nghĩ gì. Vậy đối với ông Chản, điểm nhìn dừng hẳn ở bên ngoài. Chi tiết “đứng thần ra một lúc” là dấu của một tâm trạng, nhưng người kể chỉ thấy được cái dáng đứng, không vào được bên trong.
Đoạn trích được kể ở ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi” nhưng chỉ đóng vai người chứng kiến; biến cố chính thuộc về ông Chản. Điểm nhìn đặt ở bên ngoài đối với ông Chản: người kể chỉ ghi được việc ông làm và lời ông nói, không nói được ông nghĩ gì. Nhờ vậy dáng “đứng thần ra một lúc” giữ nguyên được vẻ bí ẩn, người đọc phải tự đoán và bị cuốn theo cái điều chưa được nói.
Nhiều bài viết “ngôi thứ nhất, nhân vật chính là tôi” chỉ vì thấy chữ “tôi” ở câu đầu. Barem không cho điểm ý đó, vì suốt đoạn “tôi” không hề có biến cố nào. Một lỗi khác cũng hay gặp: dựa vào chi tiết “đứng thần ra” mà kết luận điểm nhìn ở bên trong. Đứng thần ra là một dáng vẻ nhìn thấy được, không phải một ý nghĩ được nói ra.
Đọc đoạn trích sau và cho biết đoạn thuộc ngôi kể nào, vì sao dễ nhầm:
“Liên xếp lại chồng vở trên bàn. Ngày mai họp phụ huynh, mà tiền học của thằng bé thì vẫn chưa xoay đủ, biết ăn nói làm sao. Cô tắt đèn, ra hiên ngồi. Ngoài kia trời đã có sao.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – trích truyện ngắn “Đêm trước buổi họp”)
Ta rà cả bốn câu. Nhân vật được gọi là “Liên”, rồi là “cô”. Không có một chữ “tôi” nào trong lời kể. Vậy đoạn trích kể ở ngôi thứ ba, dù đọc lên rất giống lời một người đang tự kể chuyện mình.
Câu hai để lộ tính toán và nỗi lo của Liên. Ngoài Liên, đoạn không nói ý nghĩ của ai khác; thằng bé chỉ được nhắc tới như một mối lo trong đầu Liên. Vào được đúng một người, vậy đây là ngôi thứ ba hạn tri.
Câu một và câu ba chỉ ghi hành động thấy được: xếp vở, tắt đèn, ra hiên ngồi — điểm nhìn bên ngoài. Câu hai khác hẳn: nó là câu tường thuật, không có dấu gạch đầu dòng, không có ngoặc kép, nhưng giọng lại là giọng Liên, có cả tiếng than “biết ăn nói làm sao”. Ta thử thêm hai chữ “Liên nghĩ:” vào trước câu ấy, đọc vẫn xuôi và nghĩa không đổi. Đó là lời nửa trực tiếp, tức điểm nhìn đã di chuyển vào bên trong nhân vật rồi câu ba lại lùi ra ngoài.
Đoạn trích kể ở ngôi thứ ba hạn tri, gắn với nhân vật Liên. Điểm nhìn di chuyển: câu một và câu ba đứng ngoài ghi hành động, câu hai chuyển hẳn vào trong bằng lời nửa trực tiếp — “mà tiền học của thằng bé thì vẫn chưa xoay đủ, biết ăn nói làm sao”. Cách kể ấy cho người đọc vừa thấy Liên bình thản bên ngoài, vừa nghe được nỗi lo bên trong, hai điều lệch nhau; chính chỗ lệch làm nên sức nặng của đoạn.
Bẫy lớn nhất ở đây là ghi “ngôi thứ nhất” vì cả đoạn thấm đẫm ý nghĩ riêng tư. Đó đúng là chỗ mà đề muốn phân loại: điểm nhìn ở bên trong không biến ngôi kể thành ngôi thứ nhất, phép đếm đại từ mới quyết định ngôi kể. Bẫy thứ hai là gọi câu hai là “độc thoại nội tâm”. Độc thoại nội tâm thường được tách ra rõ, còn ở đây câu vẫn nằm trong mạch tường thuật của người kể, nên tên gọi đúng là lời nửa trực tiếp.
Đọc đoạn trích sau và cho biết người kể thuộc kiểu nào, tác dụng của lựa chọn ấy:
“Ông Kỳ nghĩ thằng con sẽ mừng khi thấy món quà. Ở đầu ngõ, thằng con đang nghĩ cách nói với cha rằng năm nay nó không về. Cả hai đều không biết chuyến xe cuối cùng đã chạy từ lúc bốn giờ.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – trích truyện ngắn “Chuyến xe bốn giờ”)
Lời kể gọi nhân vật là “ông Kỳ”, “thằng con”, “nó”. Không có chữ “tôi”. Vậy ngôi thứ ba.
Câu một nói ý nghĩ của ông Kỳ. Câu hai nói ý nghĩ của thằng con. Đã là hai người. Câu ba còn đi xa hơn: nó nói ra một điều mà “cả hai đều không biết”, tức người kể biết nhiều hơn mọi nhân vật cộng lại. Vậy đây là người kể ngôi thứ ba toàn tri.
Vế thứ nhất, người đọc thấy được cái mà không nhân vật nào thấy: hai cha con đang nghĩ ngược nhau và cả hai cùng lỡ chuyến xe. Vế thứ hai, lối kể ấy không giấu gì cả, nó đặt người đọc lên cao hơn nhân vật, sinh ra cảm giác xót xa vì ta biết trước điều họ sắp phải nhận.
Đoạn trích được kể ở ngôi thứ ba toàn tri: người kể vào được ý nghĩ của cả ông Kỳ lẫn người con, lại biết cả điều “cả hai đều không biết” là chuyến xe cuối đã chạy. Tác dụng: đặt cạnh nhau hai ý nghĩ trái ngược trong cùng một khoảnh khắc, làm bật lên khoảng cách giữa hai cha con; đồng thời cho người đọc biết trước cái hụt hẫng đang chờ họ, nên đoạn văn ngắn mà nặng.
Có bài ghi “ngôi thứ ba hạn tri” vì chỉ đọc câu đầu rồi dừng. Chỉ cần đọc thêm một câu là thấy người kể đã sang đầu người thứ hai. Bẫy thứ hai là nêu tác dụng kiểu “giúp câu chuyện sinh động và hấp dẫn hơn” — barem bỏ qua ý ấy vì nó đúng với mọi đoạn văn, không chỉ ra được cái gì riêng của lối kể toàn tri.