Phần Đọc hiểu của đề Ngữ văn hỏi thơ theo hai hướng. Hướng thứ nhất chỉ vào một hình ảnh hoặc một biện pháp tu từ rồi bắt nêu tác dụng. Hướng thứ hai hỏi cả bài: mạch cảm xúc đi từ đâu đến đâu, chia làm mấy chặng. Hai hướng ấy dùng chung một nền: đọc được hình ảnh trước, rồi mới lần ra mạch. Làm ngược lại thì ta chỉ có một dàn ý rỗng, chặng nào cũng ghi được mà không chứng minh được.
Đây là chỗ mất điểm âm thầm nhất. Học viên đọc thấy bất cứ sự vật nào trong thơ cũng vội gán cho nó một tầng nghĩa sâu xa, viết ra thì không có gì đỡ. Thực ra phần lớn hình ảnh trong thơ chỉ làm việc tả thực, và tả thực không phải là kém giá trị. Ba dấu hiệu dưới đây cho biết một hình ảnh có đang mang nghĩa biểu tượng hay không:
Câu hỏi tự đặt khi phân vân: bỏ tầng nghĩa bóng đi thì câu thơ còn đứng được không? Nếu còn đứng nguyên vẹn và không hụt gì, hình ảnh đó chỉ tả thực. Nếu bỏ đi thì câu thơ thành thừa, thành vô nghĩa, lúc đó nghĩa bóng mới là thứ có thật.
| Biện pháp | Dấu hiệu nhìn thấy trên văn bản | Hay bị lẫn với |
|---|---|---|
| So sánh | có từ so sánh: như, tựa, là, bao nhiêu... bấy nhiêu; hai vế cùng có mặt | ẩn dụ |
| Ẩn dụ | chỉ có vế B, vế A bị giấu; quan hệ giữa A và B là quan hệ tương đồng | hoán dụ |
| Hoán dụ | chỉ có vế B, nhưng quan hệ với A là quan hệ gần gũi: bộ phận thay toàn thể, vật dụng thay người | ẩn dụ |
| Nhân hoá | sự vật được gán hành động, cảm xúc hoặc cách xưng hô vốn chỉ dành cho người | so sánh ngầm |
| Điệp | một tiếng, một cụm hoặc một cấu trúc lặp lại có chủ ý | lỗi lặp từ |
| Đảo ngữ | thành phần vị ngữ hoặc trạng ngữ bị đẩy lên trước chủ ngữ | trật tự thường |
| Câu hỏi tu từ | có dấu hỏi hoặc từ để hỏi nhưng không chờ câu trả lời | câu hỏi thật |
Ẩn dụ hay hoán dụ — cách quyết nhanh. Hỏi một câu: giữa hình ảnh được nói ra và đối tượng được nhắm tới, quan hệ là giống nhau hay dính nhau? Giống nhau về một nét nào đó thì là ẩn dụ. Dính nhau trong thực tế, kiểu chiếc áo với người mặc áo, mái đầu bạc với tuổi già, thì là hoán dụ. Chữ then chốt: tương đồng thì ẩn dụ, gần gũi thì hoán dụ.
Đây là chỗ mất điểm nhiều nhất của cả phần Đọc hiểu. Câu 1,0 điểm hỏi tác dụng của một biện pháp tu từ được chấm theo ba ý, và cả ba đều phải viết ra thành chữ:
Những chữ như "làm câu thơ sinh động, giàu hình ảnh, giàu sức gợi, tăng tính biểu cảm" không nằm trong ba ý trên. Chúng đúng với mọi biện pháp tu từ của mọi bài thơ, nên không chứng minh được người viết đã đọc bài thơ này. Barem không tính điểm cho chúng.
Mạch cảm xúc là đường đi của tình cảm trong bài thơ, từ điểm mở đến điểm khép. Chia mạch là việc cắt bài thơ ra thành các chặng, mỗi chặng một trạng thái. Chỗ cắt phải có bằng chứng. Bốn dấu hiệu chuyển mạch, xếp theo độ tin cậy giảm dần:
Bài thơ 8020 dưới đây được dùng làm mẫu để tập chia mạch. Đọc và tìm bốn dấu hiệu vừa nêu:
"Bến cũ chiều nay nước lặng tờ
Con đò gối bãi ngủ bơ vơ
Hàng cau đứng đợi ai không rõ
Lá rụng đầy sân một sắc mơ
Tôi đứng nhìn sông nhớ chuyến đò
Nhớ tay mẹ vẫy phía bên bờ
Nhớ đêm trở gió lều tranh dột
Nhớ tiếng ru dài lẫn tiếng mưa
Giờ ta trở lại, bến còn đây
Chỉ mẹ là không kịp đợi ngày
Sông vẫn trôi về nơi biển rộng
Ta ngồi nhặt lại một chiều bay"
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài thơ "Bến cũ")
Thơ trữ tình không kể một câu chuyện có nhân vật và sự kiện, nó ghi lại chuyển động của một tâm trạng. Chuyển động ấy không hiện ra trực tiếp mà hiện qua ba lớp vỏ: chuỗi hình ảnh, hệ thống đại từ, nhịp điệu. Đọc mạch cảm xúc bằng cách soi ba lớp vỏ đó là đi đúng đường mà thể loại đã mở sẵn. Còn đọc bằng cách hỏi "bài thơ này nói về cái gì" là áp cách đọc của văn xuôi tự sự vào thơ, nên bao giờ cũng ra một câu trả lời chung chung.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau:
"Giếng làng như con mắt mở suốt đêm
Soi lên trời những ngôi sao lạc lối"
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài thơ "Giếng làng")
Dòng một có từ so sánh "như", hai vế cùng có mặt: vế A là "giếng làng", vế B là "con mắt mở suốt đêm". Vậy biện pháp chính là so sánh. Dòng hai gán cho giếng hành động "soi lên trời", một hành động của người, nên có thêm phép nhân hoá đi kèm.
Cái giếng của làng được so sánh với một con mắt mở suốt đêm. Nét chung của hai vế là hình tròn, là mặt nước phản chiếu, và là trạng thái thức, không khép lại.
Nếu chỉ nói "giếng làng lúc nào cũng có nước", người đọc chỉ nhận được một thông tin. Nhờ phép so sánh, cái giếng thành một vật biết thức, biết nhìn, biết giữ lấy bầu trời trong lòng nó. Từ đó giếng làng không còn là một công trình mà thành chứng nhân lặng lẽ của làng quê, thức thay cho những người đã ngủ.
Cách nhìn ấy cho thấy người viết gắn bó và trân trọng những vật bình dị của làng, xem chúng như những sinh thể có đời sống riêng.
Hai dòng thơ dùng phép so sánh, ví giếng làng với "con mắt mở suốt đêm", kết hợp nhân hoá khi để giếng "soi lên trời". Nhờ đó cái giếng vốn là vật vô tri hiện lên như một sinh thể biết thức, biết dõi theo bầu trời, thành chứng nhân lặng lẽ của làng quê — điều mà một câu tả bình thường về giếng nước không mang lại được. Qua đó, tác giả bộc lộ sự gắn bó và trân trọng với những vật bình dị nơi mình sinh ra.
Câu trả lời hay gặp là "phép so sánh làm câu thơ sinh động, giàu hình ảnh, tăng sức gợi cảm". Câu ấy đúng với bất kỳ phép so sánh nào trong bất kỳ bài thơ nào, nên nó không chứng minh được người viết đã đọc hai dòng thơ này. Barem xếp nó vào loại lời khen chung, không có ý nào để chấm. Muốn có điểm thì phải viết ra được hai vế của phép so sánh và điều mới mà người đọc nhìn thấy nhờ nó.
Hình ảnh "mơ" trong hai dòng thơ sau là hình ảnh tả thực hay hình ảnh biểu tượng? Vì sao?
"Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ"
(Hàn Mặc Tử – Đà Lạt trăng mờ)
Tiếng "mơ" xuất hiện hai lần trong cùng một dòng: "Trời mơ" và "huyền mơ". Nó không đi kèm một sự vật cụ thể nào có thể nhìn thấy, cầm nắm. Đó là tín hiệu đầu tiên cho thấy đây không phải một hình ảnh tả thực theo nghĩa tả một vật.
Câu hỏi tự đặt: bỏ tầng nghĩa bóng của "mơ" đi thì dòng thơ còn đứng được không? Nếu hiểu "mơ" chỉ là một màu sắc nhạt của sương thì dòng thơ mất hẳn phần "trong cảnh thực huyền mơ", vì cả dòng đang dựng lên sự chồng lấn giữa thực và mộng. Bỏ nghĩa bóng đi thì câu thơ hụt, vậy nghĩa bóng là có thật.
Dòng trên có cụm "phút thiêng liêng", một cụm nói về trạng thái tinh thần chứ không nói về cảnh vật. Dòng dưới đặt cạnh nhau hai từ trái chiều là "cảnh thực" và "huyền mơ". Hai chỗ này đỡ lấy nghĩa bóng, cho phép ta khẳng định mà không phải mượn hiểu biết bên ngoài văn bản.
Hình ảnh "mơ" ở đây mang nghĩa biểu tượng chứ không thuần tả thực. Căn cứ: tiếng "mơ" lặp lại hai lần trong một dòng và đặt cạnh cụm đối lập "cảnh thực", cùng với cụm "phút thiêng liêng" ở dòng trên. Nhờ đó, cảnh Đà Lạt trong trăng hiện lên như một cõi giữa thực và mộng, và người đọc cảm được trạng thái ngây ngất của chủ thể trữ tình trước cảnh vật.
Có hai lỗi trái chiều nhau ở dạng câu này. Lỗi thứ nhất là trả lời "tả thực" vì cho rằng thơ chỉ đang tả sương mù Đà Lạt, bỏ mất chữ "huyền" ngay bên cạnh. Lỗi thứ hai nặng hơn: gán cho "mơ" một nghĩa biểu tượng thật to như ước mơ đời người mà không chỉ ra được chỗ nào trong văn bản đỡ lấy nghĩa ấy. Barem chỉ chấp nhận nghĩa biểu tượng nào có chỗ dựa trong chính đoạn trích.
Chia mạch cảm xúc của bài thơ sau thành các chặng và chỉ ra dấu hiệu chuyển mạch:
"Tháng giêng ta đi hội
Tháng sáu ta gặt đồng
Tháng chạp ngồi đếm lại
Thấy mình còn tay không"
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài thơ "Ba tháng")
Đại từ: "ta" có ở dòng một và dòng hai, biến mất ở dòng ba và dòng bốn. Thì gian: ba mốc tháng giêng, tháng sáu, tháng chạp nối nhau theo trục thời gian. Từ chuyển ý: không có từ như "chợt", "bỗng". Nhịp: cả bốn dòng đều năm tiếng, nhịp không đổi.
Hai dấu hiệu cùng chỉ về một chỗ: đại từ "ta" biến mất và động từ đổi từ hành động bên ngoài sang hành động bên trong. Chỗ ấy nằm giữa dòng hai và dòng ba. Chuỗi thời gian tháng giêng, tháng sáu, tháng chạp thì chảy đều, nó không tự nó tạo ra chỗ cắt.
Chặng một gồm dòng một và dòng hai: một năm đi qua trong hành động, người và việc hoà vào nhịp mùa vụ, giọng thơ nhẹ và đều. Chặng hai gồm dòng ba và dòng bốn: người dừng lại để "đếm", và cái đếm được là "tay không". Giọng thơ chùng xuống, từ kể chuyển sang tự nhìn lại.
Bài thơ chia làm hai chặng. Chặng một là hai dòng đầu, ghi lại một năm trôi qua trong hành động với đại từ "ta" chủ động đi hội, gặt đồng. Chặng hai là hai dòng cuối, chuyển sang tự nhìn lại. Dấu hiệu chuyển mạch nằm ở đầu dòng ba: đại từ "ta" biến mất, động từ đổi từ hành động bên ngoài sang hành động bên trong là "ngồi đếm" và "thấy". Nhờ chỗ chuyển ấy, ba mốc thời gian không còn là chuỗi liệt kê mà thành một năm được tổng kết bằng hai chữ "tay không".
Bài thơ có bốn dòng nên nhiều bài chia luôn thành bốn chặng, mỗi dòng một chặng, hoặc chia thành ba chặng theo ba cái tháng. Chia như vậy là lấy hình thức trình bày làm chỗ cắt, trong khi barem đòi chỗ cắt phải là chỗ có dấu hiệu đổi trạng thái. Ba mốc tháng ở đây là chất liệu của chặng, không phải ranh giới giữa các chặng.