Câu hỏi mở đầu phần Đọc hiểu gần như bài nào cũng là "Xác định thể thơ của văn bản trên". Câu ấy chỉ 0,5 điểm nhưng là câu mất điểm oan nhiều nhất, vì phần lớn học viên trả lời bằng cảm giác: thấy thơ ngắn thì đoán ngũ ngôn, thấy dài thì đoán tự do. Ta bỏ hẳn lối đoán đó. Gọi tên thể thơ là một chuỗi thao tác đếm, làm đúng thứ tự thì không cần thuộc bài thơ nào vẫn trả lời được.
| Thể thơ | Dãy số tiếng | Vần đặc trưng | Nhịp mặc định |
|---|---|---|---|
| Lục bát | 6 - 8 - 6 - 8... | tiếng 6 dòng lục vần với tiếng 6 dòng bát; tiếng 8 dòng bát vần với tiếng 6 dòng lục sau | 2/2/2 và 2/2/2/2 |
| Song thất lục bát | 7 - 7 - 6 - 8 rồi lặp | tiếng 7 của câu thất trên vần với tiếng 5 của câu thất dưới | 3/4 ở câu thất, 2/2/2 ở câu lục |
| Ngũ ngôn | 5 ở mọi dòng | vần chân, thường gieo ở dòng chẵn | 2/3 hoặc 3/2 |
| Thất ngôn tứ tuyệt | 7 ở cả 4 dòng | vần chân ở dòng 1, 2, 4 | 4/3 |
| Thất ngôn bát cú | 7 ở cả 8 dòng | vần chân ở dòng 1, 2, 4, 6, 8; có niêm và có đối ở hai cặp giữa | 4/3 |
| Thơ tám tiếng | 8 ở mọi dòng | vần chân, hay gieo liền hoặc gieo cách theo khổ bốn dòng | 3/3/2 hoặc 3/5 |
| Thơ tự do | số tiếng thay đổi | có thể không gieo vần | do câu thơ tự quyết |
Đề chỉ hỏi bốn cặp sau, và cặp nào cũng nhận ra được bằng mắt, không cần cảm nhận.
Mỗi thể thơ có một cách ngắt nhịp mặc định, ghi ở cột cuối bảng trên. Nhịp mặc định không phải luật cứng, nó là cái nền để ta nhận ra chỗ nhà thơ cố ý làm khác. Chỗ làm khác ấy mới là thứ đề hỏi. Ba dấu hiệu phá nhịp nhìn thấy được ngay trên trang giấy:
Khi nêu tác dụng của việc phá nhịp, ta nói theo công thức hai vế: nhịp đổi từ ... sang ..., nhờ đó câu thơ dựng được cảm giác ... Nói "nhịp thơ linh hoạt, uyển chuyển" là nói suông, barem không tính điểm.
Thể thơ trong tiếng Việt được định nghĩa bằng ba thứ đo đếm được: số tiếng mỗi dòng, cách gieo vần, cách phối thanh. Không có định nghĩa nào dựa vào nội dung hay cảm xúc. Vì vậy một bài thơ nói về mùa thu, một bài nói về chiến tranh vẫn có thể cùng một thể thơ. Đếm là cách đi thẳng vào định nghĩa, còn cảm nhận là đi vòng qua chỗ định nghĩa không nhắc tới.
Đọc đoạn thơ sau và xác định thể thơ, cách gieo vần:
"Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương"
(Nguyễn Nhược Pháp – Chùa Hương)
Dòng 1: Hôm / nay / đi / chùa / Hương = 5 tiếng. Dòng 2: Hoa / cỏ / mờ / hơi / sương = 5 tiếng. Dòng 3: Cùng / thầy / me / em / dậy = 5 tiếng. Dòng 4: Em / vấn / đầu / soi / gương = 5 tiếng. Dãy số tiếng là 5 - 5 - 5 - 5, đều tăm tắp.
Dãy toàn số 5 chỉ ứng với một ô duy nhất trong bảng: thể ngũ ngôn, tức thơ năm tiếng. Không cần xét thêm gì nữa cho câu hỏi thể thơ.
Bốn tiếng cuối lần lượt là "Hương", "sương", "dậy", "gương". Ba tiếng "Hương - sương - gương" trùng khít phần vần ương và đều đứng ở cuối dòng, vậy đây là vần chân. Chúng nằm ở dòng 1, 2 và 4, tức có cả cặp vần liền (dòng 1 với dòng 2) lẫn cặp vần cách (dòng 2 với dòng 4). Cả ba tiếng đều mang thanh ngang, nên là vần bằng.
Đoạn thơ được viết theo thể ngũ ngôn (thơ năm tiếng), mỗi dòng đúng năm tiếng. Đoạn thơ gieo vần chân, vần bằng ở tiếng cuối các dòng 1, 2 và 4: "Hương - sương - gương".
Nhiều bài trả lời "thể thơ năm chữ" rồi dừng lại ở đó khi đề hỏi cả cách gieo vần, mất luôn nửa số điểm. Một lỗi khác là chép ra ba tiếng hiệp vần mà không gọi tên "vần chân": barem đòi đủ hai bộ phận, gọi tên và dẫn chứng, thiếu bộ phận nào trừ bộ phận ấy.
Đọc bài thơ sau và cho biết thể thơ, chỉ ra vị trí các tiếng hiệp vần:
"Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò"
(Trần Tế Xương – Sông Lấp)
Dòng 1: Sông / kia / rày / đã / nên / đồng = 6. Dòng 2: Chỗ / làm / nhà / cửa / chỗ / trồng / ngô / khoai = 8. Dòng 3: Vẳng / nghe / tiếng / ếch / bên / tai = 6. Dòng 4: Giật / mình / còn / tưởng / tiếng / ai / gọi / đò = 8. Dãy số là 6 - 8 - 6 - 8.
Dãy 6 - 8 nối nhau là khuôn của thể lục bát. Ta xác nhận lại bằng vần ở bước sau, vì lục bát có một kiểu gieo vần không thể lẫn với thể nào khác.
Luật lục bát: tiếng thứ sáu của dòng lục vần với tiếng thứ sáu của dòng bát; tiếng thứ tám của dòng bát vần với tiếng thứ sáu của dòng lục kế tiếp. Áp vào bài: "đồng" là tiếng thứ sáu dòng 1, vần với "trồng" là tiếng thứ sáu dòng 2 — đây là vần lưng. Tiếng thứ tám dòng 2 là "khoai", vần với "tai" là tiếng thứ sáu dòng 3 — vần chân bắt sang vần lưng. Tiếp đó "tai" vần với "ai", tiếng thứ sáu dòng 4. Mọi cặp vần đều khớp luật.
Bài thơ viết theo thể lục bát. Bài gieo cả vần lưng lẫn vần chân theo đúng luật của thể: "đồng" (tiếng 6 dòng lục) vần với "trồng" (tiếng 6 dòng bát); "khoai" (tiếng 8 dòng bát) vần với "tai" (tiếng 6 dòng lục tiếp theo); "tai" lại vần với "ai" (tiếng 6 dòng bát cuối).
Cái sai phổ biến là chỉ nhìn tiếng cuối bốn dòng — "đồng, khoai, tai, đò" — rồi kết luận bài thơ gieo vần chân. Cách nhìn đó bỏ mất tiếng "trồng" nằm giữa dòng bát, tức bỏ mất chính đặc trưng của lục bát, nên barem không cho trọn điểm dù tên thể thơ vẫn gọi đúng.
Đọc đoạn thơ sau và xác định thể thơ:
"Gió thổi ngang qua vườn mía cũ
Lá reo lên như tiếng ai cười
Rồi im
Chỉ còn nắng
và một chiếc lá rơi rất chậm xuống bậc thềm"
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài thơ "Vườn cũ")
Dòng 1: Gió / thổi / ngang / qua / vườn / mía / cũ = 7. Dòng 2: Lá / reo / lên / như / tiếng / ai / cười = 7. Đến đây dãy số là 7 - 7, rất dễ kết luận vội. Đếm tiếp: dòng 3 "Rồi im" = 2 tiếng; dòng 4 "Chỉ còn nắng" = 3 tiếng; dòng 5 = 11 tiếng.
Dãy đầy đủ là 7 - 7 - 2 - 3 - 11. Chỉ cần một dòng lệch khỏi con số chung là khuôn cố định đã vỡ, ở đây có tới ba dòng lệch.
Các tiếng cuối "cũ - cười - im - nắng - thềm" không tạo thành cặp vần nào theo luật. Độ dài dòng thơ co giãn theo mạch cảm xúc: dòng 3 rút còn hai tiếng để dựng khoảng lặng, dòng 5 kéo dài ra để tả cái rơi chậm. Đó là cách vận hành của thơ tự do.
Đoạn thơ viết theo thể tự do. Căn cứ: số tiếng các dòng không đều nhau (7 - 7 - 2 - 3 - 11), bài không gieo vần theo luật cố định, độ dài mỗi dòng thay đổi theo mạch cảm xúc.
Đọc hai dòng đầu thấy đều bảy tiếng rồi ghi "thất ngôn" là cái bẫy đề cố ý gài. Thao tác đếm chỉ đáng tin khi quét hết bài; đếm một khổ rồi suy ra cả bài là dùng đúng công cụ ở sai phạm vi, và câu trả lời sai ngay từ chữ đầu tiên nên không còn ý nào được điểm.