Thi THPT · Môn Ngữ văn · Thơ — đọc và phân tích

Thể thơ, vần và nhịp

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Ngữ văn

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

1. Gọi tên thể thơ là một việc ĐẾM, không phải việc nhớ

Câu hỏi mở đầu phần Đọc hiểu gần như bài nào cũng là "Xác định thể thơ của văn bản trên". Câu ấy chỉ 0,5 điểm nhưng là câu mất điểm oan nhiều nhất, vì phần lớn học viên trả lời bằng cảm giác: thấy thơ ngắn thì đoán ngũ ngôn, thấy dài thì đoán tự do. Ta bỏ hẳn lối đoán đó. Gọi tên thể thơ là một chuỗi thao tác đếm, làm đúng thứ tự thì không cần thuộc bài thơ nào vẫn trả lời được.

  • Thao tác 1 — đếm tiếng của từng dòng, đếm hết cả bài. Mỗi chữ viết rời là một tiếng. Từ láy như "lơ phơ", "le te" là hai tiếng, không phải một. Ghi số tiếng ra lề: 6, 8, 6, 8...
  • Thao tác 2 — nhìn dãy số vừa ghi. Dãy lặp đều thì bài thơ có thể thơ cố định; dãy nhảy lung tung thì là thơ tự do. Đây là chỗ quyết định, và nó chỉ tin được khi ta đã đếm hết bài.
  • Thao tác 3 — xem tiếng cuối dòng nào bắt vần với tiếng nào. Vần xác nhận lại kết luận ở thao tác 2: lục bát bao giờ cũng có một tiếng gieo vần nằm giữa dòng tám tiếng.
  • Thao tác 4 — với thơ bảy tiếng, đếm thêm số dòng của cả bài. Bốn dòng là hướng tứ tuyệt, tám dòng là hướng bát cú, số dòng khác hai con số đó thì chỉ được gọi là thơ bảy tiếng.
Sơ đồ hai bước gọi tên thể thơ: đếm tiếng mỗi dòng rồi đối chiếu để kết luận BƯỚC 1 — đếm tiếng từng dòng, quét hết bài BƯỚC 2 — kết luận tên thể thơ 6 - 8 - 6 - 8 nối nhau Lục bát - vần lưng ở tiếng 6 dòng bát 7 - 7 - 6 - 8 lặp thành cụm Song thất lục bát 5 tiếng, dòng nào cũng vậy Ngũ ngôn (thơ năm tiếng) 7 tiếng, cả bài đúng 4 dòng Thất ngôn tứ tuyệt - nếu còn giữ luật 7 tiếng, cả bài đúng 8 dòng Thất ngôn bát cú - nếu có niêm và đối 8 tiếng, dòng nào cũng vậy Thơ tám tiếng - chớ gọi nhầm là tự do số tiếng đổi giữa chừng Thơ tự do Chỗ hỏng của sơ đồ: đếm một khổ rồi kết luận cả bài. Thơ tự do vẫn có thể có một khổ bảy tiếng đều tăm tắp. Đếm hết bài mới được đi sang cột phải.

2. Bảng nhận dạng bảy thể thơ hay ra đề

Thể thơDãy số tiếngVần đặc trưngNhịp mặc định
Lục bát6 - 8 - 6 - 8...tiếng 6 dòng lục vần với tiếng 6 dòng bát; tiếng 8 dòng bát vần với tiếng 6 dòng lục sau2/2/2 và 2/2/2/2
Song thất lục bát7 - 7 - 6 - 8 rồi lặptiếng 7 của câu thất trên vần với tiếng 5 của câu thất dưới3/4 ở câu thất, 2/2/2 ở câu lục
Ngũ ngôn5 ở mọi dòngvần chân, thường gieo ở dòng chẵn2/3 hoặc 3/2
Thất ngôn tứ tuyệt7 ở cả 4 dòngvần chân ở dòng 1, 2, 44/3
Thất ngôn bát cú7 ở cả 8 dòngvần chân ở dòng 1, 2, 4, 6, 8; có niêm và có đối ở hai cặp giữa4/3
Thơ tám tiếng8 ở mọi dòngvần chân, hay gieo liền hoặc gieo cách theo khổ bốn dòng3/3/2 hoặc 3/5
Thơ tự dosố tiếng thay đổicó thể không gieo vầndo câu thơ tự quyết

3. Vần — bốn cặp khái niệm, đừng lẫn

Đề chỉ hỏi bốn cặp sau, và cặp nào cũng nhận ra được bằng mắt, không cần cảm nhận.

  • Vần chân và vần lưng. Tiếng hiệp vần đứng cuối dòng thì gọi là vần chân. Tiếng hiệp vần nằm giữa dòng thì gọi là vần lưng. Thể lục bát dùng cả hai: tiếng thứ sáu của dòng bát là vần lưng, tiếng thứ tám của dòng bát là vần chân. Thấy một tiếng ở giữa dòng bắt vần với tiếng cuối dòng trên, gần như chắc chắn đó là lục bát.
  • Vần bằng và vần trắc. Tiếng hiệp vần mang thanh ngang hoặc thanh huyền thì là vần bằng; mang thanh sắc, hỏi, ngã, nặng thì là vần trắc. Vần bằng làm câu thơ trải ra, ngân dài; vần trắc làm câu thơ gãy, dứt khoát. Ví dụ 8020 biên soạn cho thấy sức nặng của vần trắc: "Đá dựng bên đường vách dốc đứng / Gió tạt ngang vai buốt cả lưng".
  • Vần liền và vần cách. Hai dòng kề nhau cùng vần thì là vần liền; hai dòng cách nhau một dòng mới cùng vần thì là vần cách. Thơ tám tiếng hiện đại rất hay gieo vần cách theo khổ bốn dòng, kiểu dòng 2 vần với dòng 4.
  • Vần chính và vần thông. Vần chính trùng khít phần âm, như "sen - chen". Vần thông chỉ gần nhau, như "vàng - xanh". Gặp vần thông thì đừng vội kết luận bài thơ không gieo vần.

4. Nhịp — mặc định là gì, phá nhịp báo hiệu điều gì

Mỗi thể thơ có một cách ngắt nhịp mặc định, ghi ở cột cuối bảng trên. Nhịp mặc định không phải luật cứng, nó là cái nền để ta nhận ra chỗ nhà thơ cố ý làm khác. Chỗ làm khác ấy mới là thứ đề hỏi. Ba dấu hiệu phá nhịp nhìn thấy được ngay trên trang giấy:

  • Dấu câu đặt giữa dòng. Một dấu phẩy hay dấu chấm giữa dòng buộc người đọc dừng lại đúng chỗ đó, dù nhịp mặc định không dừng ở đó. Đây là dấu hiệu chắc chắn nhất.
  • Dòng thơ bị bẻ ngắn bất thường giữa một bài mà các dòng khác đều dài. Dòng ngắn ấy hút hết sự chú ý về phía nó.
  • Một cụm từ được tách riêng bằng dấu gạch ngang. Nhịp bị hẫng một quãng, thường ứng với chỗ cảm xúc đổi chiều.

Khi nêu tác dụng của việc phá nhịp, ta nói theo công thức hai vế: nhịp đổi từ ... sang ..., nhờ đó câu thơ dựng được cảm giác ... Nói "nhịp thơ linh hoạt, uyển chuyển" là nói suông, barem không tính điểm.

5. VÌ SAO cách đọc này đúng

Thể thơ trong tiếng Việt được định nghĩa bằng ba thứ đo đếm được: số tiếng mỗi dòng, cách gieo vần, cách phối thanh. Không có định nghĩa nào dựa vào nội dung hay cảm xúc. Vì vậy một bài thơ nói về mùa thu, một bài nói về chiến tranh vẫn có thể cùng một thể thơ. Đếm là cách đi thẳng vào định nghĩa, còn cảm nhận là đi vòng qua chỗ định nghĩa không nhắc tới.

6. KHI NÀO cách đọc này HỎNG

  • Thơ tự do có một khổ bảy tiếng đều nhau. Nếu chỉ đếm khổ đầu rồi kết luận, ta gọi nhầm thành thất ngôn. Chữa: quét hết bài, chỉ cần một dòng lệch số tiếng là cả bài thành tự do.
  • Thơ tám tiếng bị gọi thành thơ tự do. Người đọc thấy dòng thơ dài, không thấy khuôn quen thuộc như lục bát nên đoán là tự do. Chữa: đếm, thấy mọi dòng đúng tám tiếng thì gọi là thơ tám tiếng, đây là một thể có tên hẳn hoi.
  • Thơ bảy tiếng tám dòng nhưng không có niêm, không có đối. Gọi ngay là thất ngôn bát cú Đường luật là vội. Nếu đề chỉ trích một đoạn, cách trả lời an toàn và vẫn đúng là "thơ bảy tiếng". Chỉ khi kiểm được cả niêm, luật, đối, vần mới hạ bút chữ "Đường luật".
  • Lục bát biến thể. Có dòng lục bảy tiếng hoặc dòng bát chín tiếng, vần vẫn giữ đúng luật lục bát. Đây vẫn là lục bát, không phải tự do — vần là căn cứ mạnh hơn số tiếng ở trường hợp này.

7. Barem ăn cái gì

  • Câu 0,5 điểm hỏi thể thơ: chỉ cần một câu, gọi đúng tên thể là đủ điểm. Không cần giải thích, không cần dẫn chứng. Viết dài không được cộng thêm, mà viết dài lại dễ nói sai một ý rồi bị trừ.
  • Câu 0,5 điểm hỏi cách gieo vần hoặc cách ngắt nhịp: phải có hai bộ phận — gọi tên (vần chân, vần lưng, nhịp 4/3...) và chỉ ra bằng chứng cụ thể trong văn bản (tiếng nào vần với tiếng nào, dòng nào ngắt ở đâu). Thiếu bằng chứng thì mất một nửa.
  • Câu 1,0 điểm hỏi tác dụng của nhịp hoặc vần: viết khoảng bốn đến sáu dòng, đủ hai ý. Ý thứ nhất mô tả hiện tượng có thật trên văn bản. Ý thứ hai nói hiệu quả cụ thể với người đọc.

8. Bộ câu hỏi tự đặt khi gặp một đoạn thơ lạ

  • Dòng đầu có mấy tiếng? Các dòng sau có giữ đúng con số đó không?
  • Dãy số tiếng của cả bài lặp theo cụm nào, hay không lặp theo cụm nào?
  • Tiếng cuối các dòng, tiếng nào bắt vần với tiếng nào? Có tiếng nào ở giữa dòng bắt vần không?
  • Tiếng hiệp vần mang thanh bằng hay thanh trắc?
  • Trong bài có dấu câu nào nằm giữa dòng không? Có dòng nào ngắn bất thường không?
  • Nếu là thơ bảy tiếng, cả bài có bao nhiêu dòng? Hai cặp giữa có đối nhau không?

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1.

Đọc đoạn thơ sau và xác định thể thơ, cách gieo vần:

"Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương"

(Nguyễn Nhược Pháp – Chùa Hương)

Bước 1 — đếm tiếng từng dòng

Dòng 1: Hôm / nay / đi / chùa / Hương = 5 tiếng. Dòng 2: Hoa / cỏ / mờ / hơi / sương = 5 tiếng. Dòng 3: Cùng / thầy / me / em / dậy = 5 tiếng. Dòng 4: Em / vấn / đầu / soi / gương = 5 tiếng. Dãy số tiếng là 5 - 5 - 5 - 5, đều tăm tắp.

Bước 2 — đối chiếu bảng nhận dạng

Dãy toàn số 5 chỉ ứng với một ô duy nhất trong bảng: thể ngũ ngôn, tức thơ năm tiếng. Không cần xét thêm gì nữa cho câu hỏi thể thơ.

Bước 3 — soi tiếng cuối các dòng để gọi tên cách gieo vần

Bốn tiếng cuối lần lượt là "Hương", "sương", "dậy", "gương". Ba tiếng "Hương - sương - gương" trùng khít phần vần ương và đều đứng ở cuối dòng, vậy đây là vần chân. Chúng nằm ở dòng 1, 2 và 4, tức có cả cặp vần liền (dòng 1 với dòng 2) lẫn cặp vần cách (dòng 2 với dòng 4). Cả ba tiếng đều mang thanh ngang, nên là vần bằng.

Kết luận — câu trả lời nộp được

Đoạn thơ được viết theo thể ngũ ngôn (thơ năm tiếng), mỗi dòng đúng năm tiếng. Đoạn thơ gieo vần chân, vần bằng ở tiếng cuối các dòng 1, 2 và 4: "Hương - sương - gương".

Bẫy

Nhiều bài trả lời "thể thơ năm chữ" rồi dừng lại ở đó khi đề hỏi cả cách gieo vần, mất luôn nửa số điểm. Một lỗi khác là chép ra ba tiếng hiệp vần mà không gọi tên "vần chân": barem đòi đủ hai bộ phận, gọi tên và dẫn chứng, thiếu bộ phận nào trừ bộ phận ấy.

Ví dụ 2.

Đọc bài thơ sau và cho biết thể thơ, chỉ ra vị trí các tiếng hiệp vần:

"Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò"

(Trần Tế Xương – Sông Lấp)

Bước 1 — đếm tiếng, ghi dãy số ra lề

Dòng 1: Sông / kia / rày / đã / nên / đồng = 6. Dòng 2: Chỗ / làm / nhà / cửa / chỗ / trồng / ngô / khoai = 8. Dòng 3: Vẳng / nghe / tiếng / ếch / bên / tai = 6. Dòng 4: Giật / mình / còn / tưởng / tiếng / ai / gọi / đò = 8. Dãy số là 6 - 8 - 6 - 8.

Bước 2 — gọi tên thể thơ

Dãy 6 - 8 nối nhau là khuôn của thể lục bát. Ta xác nhận lại bằng vần ở bước sau, vì lục bát có một kiểu gieo vần không thể lẫn với thể nào khác.

Bước 3 — soi từng cặp vần theo đúng luật lục bát

Luật lục bát: tiếng thứ sáu của dòng lục vần với tiếng thứ sáu của dòng bát; tiếng thứ tám của dòng bát vần với tiếng thứ sáu của dòng lục kế tiếp. Áp vào bài: "đồng" là tiếng thứ sáu dòng 1, vần với "trồng" là tiếng thứ sáu dòng 2 — đây là vần lưng. Tiếng thứ tám dòng 2 là "khoai", vần với "tai" là tiếng thứ sáu dòng 3 — vần chân bắt sang vần lưng. Tiếp đó "tai" vần với "ai", tiếng thứ sáu dòng 4. Mọi cặp vần đều khớp luật.

Kết luận — câu trả lời nộp được

Bài thơ viết theo thể lục bát. Bài gieo cả vần lưng lẫn vần chân theo đúng luật của thể: "đồng" (tiếng 6 dòng lục) vần với "trồng" (tiếng 6 dòng bát); "khoai" (tiếng 8 dòng bát) vần với "tai" (tiếng 6 dòng lục tiếp theo); "tai" lại vần với "ai" (tiếng 6 dòng bát cuối).

Bẫy

Cái sai phổ biến là chỉ nhìn tiếng cuối bốn dòng — "đồng, khoai, tai, đò" — rồi kết luận bài thơ gieo vần chân. Cách nhìn đó bỏ mất tiếng "trồng" nằm giữa dòng bát, tức bỏ mất chính đặc trưng của lục bát, nên barem không cho trọn điểm dù tên thể thơ vẫn gọi đúng.

Ví dụ 3.

Đọc đoạn thơ sau và xác định thể thơ:

"Gió thổi ngang qua vườn mía cũ
Lá reo lên như tiếng ai cười
Rồi im
Chỉ còn nắng
và một chiếc lá rơi rất chậm xuống bậc thềm"

(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài thơ "Vườn cũ")

Bước 1 — đếm tiếng, không dừng ở hai dòng đầu

Dòng 1: Gió / thổi / ngang / qua / vườn / mía / cũ = 7. Dòng 2: Lá / reo / lên / như / tiếng / ai / cười = 7. Đến đây dãy số là 7 - 7, rất dễ kết luận vội. Đếm tiếp: dòng 3 "Rồi im" = 2 tiếng; dòng 4 "Chỉ còn nắng" = 3 tiếng; dòng 5 = 11 tiếng.

Bước 2 — đọc dãy số tiếng của cả bài

Dãy đầy đủ là 7 - 7 - 2 - 3 - 11. Chỉ cần một dòng lệch khỏi con số chung là khuôn cố định đã vỡ, ở đây có tới ba dòng lệch.

Bước 3 — kiểm lại bằng vần và nhịp

Các tiếng cuối "cũ - cười - im - nắng - thềm" không tạo thành cặp vần nào theo luật. Độ dài dòng thơ co giãn theo mạch cảm xúc: dòng 3 rút còn hai tiếng để dựng khoảng lặng, dòng 5 kéo dài ra để tả cái rơi chậm. Đó là cách vận hành của thơ tự do.

Kết luận — câu trả lời nộp được

Đoạn thơ viết theo thể tự do. Căn cứ: số tiếng các dòng không đều nhau (7 - 7 - 2 - 3 - 11), bài không gieo vần theo luật cố định, độ dài mỗi dòng thay đổi theo mạch cảm xúc.

Bẫy

Đọc hai dòng đầu thấy đều bảy tiếng rồi ghi "thất ngôn" là cái bẫy đề cố ý gài. Thao tác đếm chỉ đáng tin khi quét hết bài; đếm một khổ rồi suy ra cả bài là dùng đúng công cụ ở sai phạm vi, và câu trả lời sai ngay từ chữ đầu tiên nên không còn ý nào được điểm.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Thấy đoạn trích có các dòng dài ngắn khác nhau là ghi ngay "thơ tự do", trong khi đó là một bài lục bát biến thể có dòng bát chín tiếng. Cách chữa: khi số tiếng lệch, đừng kết luận vội, hãy soi vần trước. Nếu vẫn thấy tiếng thứ sáu của dòng trên bắt vần với một tiếng nằm giữa dòng dưới thì đó là lục bát, vì vần là căn cứ mạnh hơn số tiếng.
  • Thấy mỗi dòng tám tiếng, không nhận ra khuôn quen thuộc nào nên ghi "thơ tự do". Thơ tám tiếng là một thể có tên riêng, có nhịp mặc định 3/3/2 và thường gieo vần cách theo khổ bốn dòng. Cách chữa: học thuộc mặt con số 8 trong bảng nhận dạng, hễ mọi dòng đều tám tiếng thì gọi thẳng là thơ tám tiếng.
  • Đếm nhầm từ láy thành một tiếng, ví dụ đếm "lơ phơ" hay "le te" là một, khiến dòng bảy tiếng bị đếm thành sáu rồi kết luận nhầm sang lục bát. Cách chữa: đếm theo chữ viết rời trên trang giấy, mỗi chữ cách nhau một khoảng trắng là một tiếng, không gộp từ láy, không gộp từ ghép, không bỏ hư từ.
  • Trả lời "thất ngôn bát cú Đường luật" chỉ vì đoạn trích có các dòng bảy tiếng, dù đề chỉ trích bốn dòng và bài gốc không giữ niêm, không có đối. Cách chữa: chữ "Đường luật" chỉ được viết khi kiểm đủ bốn thứ là số dòng, vần, niêm và đối; nếu không kiểm được thì gọi an toàn là "thơ bảy tiếng", vẫn đúng và vẫn có điểm.
  • Gọi tên được cách gieo vần nhưng không chỉ ra tiếng nào vần với tiếng nào, chỉ viết "bài thơ gieo vần chân rất hài hoà". Barem câu 0,5 điểm đòi hai bộ phận là gọi tên và dẫn chứng, thiếu dẫn chứng thì mất một nửa. Cách chữa: luôn chép ra cặp tiếng hiệp vần kèm vị trí của chúng, ví dụ "đồng" tiếng thứ sáu dòng một.
  • Nói tác dụng của nhịp thơ bằng những chữ chung chung như "nhịp thơ uyển chuyển, linh hoạt, giàu nhạc tính". Đó là lời khen, không phải phân tích, nên không có ý nào để chấm. Cách chữa: viết theo công thức hai vế — nhịp đổi từ 4/3 sang 2/2/3 ở dòng nào, và nhờ chỗ đổi ấy câu thơ dựng được cảm giác gì mà nhịp cũ không dựng được.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →