Luận điểm là điều người viết muốn ta tin. Thao tác lập luận là cách người viết làm cho ta tin điều đó. Cùng một luận điểm, chọn thao tác khác nhau thì đoạn văn có hình dạng khác nhau — và đề đọc hiểu hỏi đúng chỗ này. Gọi tên thao tác không phải để thuộc sáu chữ, mà để trả lời tiếp được câu hỏi luôn đi kèm sau đó: thao tác ấy có tác dụng gì ở chỗ này. Gọi sai tên thì phần tác dụng viết sau đó chắc chắn hỏng theo.
| Thao tác | Người viết đang làm gì | Dấu hiệu ngôn ngữ |
|---|---|---|
| Giải thích | Cắt nghĩa một khái niệm, một cách nói, cho người đọc hiểu đúng nó | là · nghĩa là · tức là · được hiểu là · nói cách khác |
| Phân tích | Chia đối tượng thành các bộ phận, các mặt, rồi soi từng phần | gồm · chia thành · thứ nhất, thứ hai · một mặt, mặt khác · xét về |
| Chứng minh | Đưa sự việc, số liệu, trích dẫn ra để chống đỡ một nhận định | chẳng hạn · dẫn chứng là · theo số liệu · thật vậy, các con số và mốc thời gian |
| Bình luận | Nêu ý khen chê, nêu đánh giá của riêng mình về vấn đề | đáng · nên · thật đáng tiếc · cần phải · lẽ ra, các tính từ đánh giá |
| So sánh | Đặt hai đối tượng cạnh nhau theo cùng một tiêu chí để thấy chỗ hơn kém | hơn · kém · trong khi · còn · so với · khác với |
| Bác bỏ | Gạt đi một ý kiến bị coi là sai rồi nêu cách hiểu đúng | nhưng · thật ra · không phải · trái lại · nào ngờ · nhiều người tưởng rằng |
Sáu thao tác thì bốn cái dễ nhận. Hai cặp dưới đây mới là chỗ mất điểm thật.
Giải thích và phân tích. Cả hai đều làm rõ một đối tượng, nên nhìn qua rất giống. Chỗ tách chúng ra là kết quả để lại: giải thích để lại một cách hiểu, phân tích để lại một danh sách. Câu “kinh tế tuần hoàn là mô hình mà thứ bỏ đi của khâu này thành đầu vào của khâu kia” chỉ cho ta một nghĩa — giải thích. Câu “một bản tin có ba lớp: sự việc, bối cảnh, hệ quả” cho ta ba mục — phân tích.
Chứng minh và bình luận. Cả hai đều đứng sau một nhận định, nên hay bị gộp làm một. Chỗ tách chúng ra là phép thử kiểm chứng: chứng minh đưa thứ người khác đo lại được, bình luận đưa thứ người khác có quyền nghĩ khác. “Chín trên mười trường trong quận đã lắp mái che sân” là chứng minh; “đó là khoản đầu tư đáng đồng tiền” là bình luận. Hai câu ấy đứng cạnh nhau trong một đoạn nhưng làm hai việc khác hẳn nhau.
Văn bản thông tin có việc khác hẳn văn nghị luận: nó báo cho ta biết chứ không thuyết phục ta tin. Vì vậy nó có một bộ phận riêng, mà đề đọc hiểu hay hỏi tên gọi và chức năng:
Tách thông tin khách quan khỏi ý kiến chủ quan. Đây là kỹ năng đề hỏi nhiều nhất ở phần văn bản thông tin. Phép thử vẫn là phép thử kiểm chứng: câu nào hai người đọc khác nhau đều kiểm ra cùng một kết quả thì là thông tin khách quan; câu nào hai người có quyền nghĩ khác nhau thì là ý kiến. “Tuyến metro chở 42.000 lượt khách trong ngày đầu” là thông tin. “Con số ấy cho thấy người dân đã sẵn sàng bỏ xe máy ở nhà” là ý kiến suy ra từ thông tin đó. Ý kiến rất hay được cài ngay sau một câu số liệu để mượn uy tín của con số.
Xác định thao tác lập luận chủ đạo của mỗi đoạn và cho biết vì sao hai đoạn không cùng một thao tác:
“Đoạn A: Gọi là “đường bao xanh” tức là dải cây trồng dọc ranh giới khu công nghiệp, dựng lên để chắn bụi và tiếng ồn trước khi chúng tới khu dân cư.”
“Đoạn B: Một dải bao xanh đạt yêu cầu gồm ba lớp. Lớp ngoài là cây bụi thấp giữ bụi nặng. Lớp giữa là cây thân gỗ tán rộng chắn gió mang bụi mịn. Lớp trong là thảm cỏ giữ đất khỏi bốc bụi trở lại.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bài viết phổ biến kiến thức)
Đoạn A chỉ có một câu, mở bằng cụm gọi là… tức là. Đoạn B có bốn câu, câu đầu chứa chữ gồm và số đếm ba lớp, ba câu sau lần lượt mở bằng lớp ngoài, lớp giữa, lớp trong. Hai bộ dấu hiệu này thuộc hai hàng khác nhau trong bảng thao tác.
Đoạn A trả lời câu hỏi “đường bao xanh là cái gì”. Đọc xong ta có đúng một cách hiểu về cụm từ ấy. Đoạn B trả lời câu hỏi “một dải bao xanh gồm mấy phần”. Đọc xong ta có một danh sách ba mục, mỗi mục một việc riêng.
Giải thích để lại một cách hiểu, phân tích để lại một danh sách các mặt. Đoạn A để lại một cách hiểu nên là giải thích. Đoạn B để lại ba lớp có chức năng khác nhau nên là phân tích. Chỗ tách hai thao tác không nằm ở độ dài đoạn văn mà nằm ở kết quả ấy.
Đoạn A dùng thao tác giải thích: người viết cắt nghĩa cụm “đường bao xanh” để người đọc hiểu đúng một khái niệm. Đoạn B dùng thao tác phân tích: người viết chia dải bao xanh thành ba lớp và chỉ ra chức năng riêng của từng lớp. Hai đoạn khác thao tác vì đoạn A để lại một cách hiểu, còn đoạn B để lại một danh sách các bộ phận.
Cách trả lời sai hay gặp là gọi cả hai đoạn đều là giải thích, với lý do “cả hai đều làm rõ đường bao xanh”. Barem không cho điểm vì làm rõ là mục đích chung của nhiều thao tác, không phải dấu hiệu để gọi tên. Bẫy thứ hai là gọi đoạn B là chứng minh vì thấy có chữ ba lớp: con số ở đây dùng để đếm bộ phận, không phải bằng cớ lấy từ thực tế nào.
Đoạn văn sau dùng những thao tác lập luận nào, và mỗi thao tác nằm ở câu nào?
“Xe buýt điện chạy êm hơn thật. Tuyến số 7 đo được 62 dB trong khoang, thấp hơn ngưỡng khuyến nghị 70 dB. Số lượt hành khách phàn nàn về tiếng ồn trong quý giảm từ 31 xuống còn 6. Một khoản đầu tư như vậy là đáng, và lẽ ra thành phố nên làm sớm hơn vài năm.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bản tin khoa học)
Câu 1 nêu một nhận định ngắn. Câu 2 có hai con số đo được. Câu 3 có hai con số về số lượt phàn nàn. Câu 4 có hai tính từ đánh giá là đáng và cụm lẽ ra nên. Bốn câu này không cùng một loại.
Hai con số 62 dB và 70 dB cùng cặp số 31 và 6 đều đo lại được: ai cầm máy đo hay mở sổ ghi phàn nàn cũng ra cùng kết quả. Vậy câu 2 và câu 3 thuộc thao tác chứng minh. Còn câu 4 thì hai người đọc có quyền nghĩ khác nhau về chuyện khoản đầu tư ấy có đáng hay không, nên nó là bình luận, không phải chứng minh.
Chứng minh chiếm hai trên bốn câu và trực tiếp chống đỡ nhận định ở câu 1, nên nó là thao tác chủ đạo. Bình luận chỉ có một câu và đứng ở cuối để chốt thái độ, nên nó là thao tác đi kèm.
Đoạn dùng hai thao tác. Thao tác chủ đạo là chứng minh, nằm ở câu 2 và câu 3, với các số đo 62 dB so với ngưỡng 70 dB và số lượt phàn nàn giảm từ 31 xuống 6. Thao tác đi kèm là bình luận, nằm ở câu cuối với các cụm đánh giá “là đáng” và “lẽ ra nên làm sớm hơn”. Câu 1 là nhận định được chứng minh, không phải một thao tác riêng.
Nhiều bài trả lời “đoạn dùng thao tác chứng minh” rồi dừng. Barem trừ vì bỏ sót câu cuối, mà câu cuối lại là chỗ duy nhất người viết lộ thái độ. Bẫy thứ hai là gọi câu 2 là so sánh vì thấy chữ “thấp hơn”: ở đây con số được đối chiếu với một ngưỡng kỹ thuật để chứng tỏ đạt hay không đạt, chứ không phải đặt hai đối tượng cạnh nhau để thấy hơn kém — muốn là so sánh thì phải có hai đối tượng.
Trong bản tin sau, hãy tách thông tin khách quan khỏi ý kiến chủ quan, và cho biết nên xử lý con số ở câu cuối như thế nào.
Trường học ở quận X thu gom 3,4 tấn pin cũ
“Chương trình kéo dài tám tuần, có 22 trường tham gia, mỗi trường đặt một thùng thu gom ở sảnh. Ban tổ chức cho biết đây là kết quả đáng khích lệ và sẽ nhân rộng trong năm tới. Theo bản tin, 68% học sinh trong quận đã biết cách phân loại pin sau chương trình.”
(Ngữ liệu 8020 biên soạn – bản tin)
Câu 1 nêu tám tuần, 22 trường, một thùng mỗi trường: hai người đọc khác nhau đi hỏi lại đều ra cùng con số, nên đây là thông tin khách quan. Nhan đề với con số 3,4 tấn cũng vậy.
Câu 2 có cụm kết quả đáng khích lệ. Chữ đáng là tính từ đánh giá; người khác hoàn toàn có quyền cho rằng 3,4 tấn cho 22 trường là còn ít. Vậy phần này là ý kiến, dù nó được gắn với một chủ thể có thật là ban tổ chức. Việc dẫn lời ban tổ chức là thông tin khách quan; nội dung lời nói ấy thì vẫn là một đánh giá.
Con số 68% có dạng rất chắc chắn nhưng bản tin không nói khảo sát do ai làm, hỏi bao nhiêu học sinh, hỏi vào lúc nào. Thiếu nguồn và cỡ mẫu thì không ai kiểm lại được, nên nó chưa đạt tiêu chuẩn của thông tin khách quan; đồng thời nó cũng không phải một lời đánh giá nên không gọi là ý kiến.
Thông tin khách quan gồm: “3,4 tấn pin cũ”, “Chương trình kéo dài tám tuần, có 22 trường tham gia, mỗi trường đặt một thùng thu gom ở sảnh”. Ý kiến chủ quan là cụm “đây là kết quả đáng khích lệ”. Con số 68% ở câu cuối phải coi là dữ liệu chưa kiểm được, vì bản tin không nêu nguồn khảo sát và cỡ mẫu; khi trích dẫn lại phải nói rõ điều đó.
Cách trả lời sai phổ biến nhất là xếp con số 68% vào nhóm thông tin khách quan chỉ vì nó là một con số. Barem không cho điểm ý ấy: dấu hiệu của thông tin khách quan là kiểm lại được, không phải là có mặt con số. Bẫy thứ hai là loại bỏ cả câu 2, cho rằng nó hoàn toàn chủ quan; thật ra việc ban tổ chức đã phát biểu và đã dự kiến nhân rộng vẫn là sự việc kiểm lại được, chỉ riêng phần đánh giá mới là ý kiến.