Ở lớp 10 ta đã đo xu thế trung tâm của mẫu số liệu (số trung bình, trung vị, mốt). Nhưng hai mẫu có cùng số trung bình vẫn có thể khác nhau một trời một vực: một lớp mà ai cũng được 7 điểm khác hẳn một lớp nửa được 4 nửa được 10. Phần này học bốn số đo mức độ phân tán: khoảng biến thiên, khoảng tứ phân vị, phương sai và độ lệch chuẩn, tính trên mẫu số liệu ghép nhóm.
Khi số liệu quá nhiều hoặc đo bằng đại lượng liên tục (thời gian, chiều cao, khối lượng), ta chia miền giá trị thành các nửa khoảng liên tiếp $[a_1;a_2)$, $[a_2;a_3)$, ..., $[a_k;a_{k+1})$ rồi đếm xem mỗi nhóm có bao nhiêu số liệu. Ba quy ước bắt buộc nhớ:
| Số đặc trưng | Công thức | Đo cái gì |
|---|---|---|
| Khoảng biến thiên $R$ | $R=a_{k+1}-a_1$ | Bề rộng toàn bộ miền số liệu; chỉ dùng hai đầu mút ngoài cùng |
| Khoảng tứ phân vị $\Delta_Q$ | $\Delta_Q=Q_3-Q_1$ | Bề rộng của $50\%$ số liệu nằm giữa; bỏ hẳn hai đuôi |
| Phương sai $s^2$ | $s^2=\dfrac{1}{n}\sum_{i=1}^{k}n_i\left(c_i-\bar{x}\right)^2=\dfrac{1}{n}\sum_{i=1}^{k}n_ic_i^2-\bar{x}^2$ | Độ lệch bình phương trung bình so với $\bar{x}$ |
| Độ lệch chuẩn $s$ | $s=\sqrt{s^2}$ | Như phương sai nhưng cùng đơn vị với số liệu |
Trong đó số trung bình của mẫu ghép nhóm là $\bar{x}=\dfrac{n_1c_1+n_2c_2+\dots+n_kc_k}{n}$.
Gọi $p$ là chỉ số nhóm đầu tiên có tần số tích luỹ $cf_p\ge \dfrac{n}{4}$. Khi đó
$Q_1=a_p+\dfrac{\dfrac{n}{4}-cf_{p-1}}{n_p}\left(a_{p+1}-a_p\right)$.
Công thức của $Q_3$ giống hệt, chỉ thay mốc $\dfrac{n}{4}$ bằng $\dfrac{3n}{4}$; công thức của trung vị $Q_2$ dùng mốc $\dfrac{n}{2}$. Chú ý ba điều: mốc là $\dfrac{n}{4}$ chứ không phải $\dfrac{n+1}{4}$; số trừ ở tử là tần số tích luỹ của nhóm đứng trước; và mẫu số là tần số của chính nhóm chứa tứ phân vị, không phải cỡ mẫu.
Cộng cùng một số $c$ vào mọi số liệu (tức tịnh tiến mọi đầu mút nhóm) thì số trung bình tăng thêm $c$ nhưng phương sai và độ lệch chuẩn không đổi, vì độ phân tán không phụ thuộc gốc đo. Nhân mọi số liệu với $k\gt 0$ thì số trung bình và độ lệch chuẩn cùng nhân $k$, còn phương sai nhân $k^2$.