Trong không gian $Oxyz$, mặt cầu tâm $I(a;b;c)$ bán kính $R\gt 0$ là tập hợp các điểm $M$ thoả mãn $IM=R$. Viết điều kiện đó bằng toạ độ ta được toàn bộ lí thuyết của bài này: mọi câu hỏi về mặt cầu đều quy về việc đọc ra tâm và bán kính, rồi so bán kính với một khoảng cách nào đó.
Dạng chính tắc. Mặt cầu tâm $I(a;b;c)$, bán kính $R$ có phương trình $$(x-a)^2+(y-b)^2+(z-c)^2=R^2.$$ Nhìn vào dạng này, tâm lấy dấu ngược với số trong ngoặc, còn vế phải là $R^2$ chứ không phải $R$ — hai chỗ sai dấu và sai bình phương này chiếm phần lớn số câu bị mất điểm.
Dạng tổng quát. Khai triển dạng trên và đặt $d=a^2+b^2+c^2-R^2$ ta được $$x^2+y^2+z^2-2ax-2by-2cz+d=0.$$ Ngược lại, một phương trình bậc hai dạng $x^2+y^2+z^2-2ax-2by-2cz+d=0$ là phương trình của một mặt cầu khi và chỉ khi $$a^2+b^2+c^2-d\gt 0,$$ và khi đó tâm là $I(a;b;c)$, bán kính $R=\sqrt{a^2+b^2+c^2-d}$. Điều kiện $\gt 0$ là điều kiện chặt: nếu $a^2+b^2+c^2-d=0$ thì tập nghiệm chỉ còn đúng một điểm $I$, còn nếu âm thì không có điểm nào. Cả hai trường hợp đó đều không phải mặt cầu.
Muốn dùng được hai công thức trên, phương trình phải có đủ ba bình phương với cùng một hệ số và không chứa tích chéo $xy$, $yz$, $zx$. Gặp $2x^2+2y^2+2z^2-4x+8y-2=0$ thì phải chia cả hai vế cho $2$ trước khi đọc tâm.
| Dữ kiện đề cho | Cách xử lí | Kết quả |
|---|---|---|
| Tâm $I$ và bán kính $R$ | Thay thẳng vào dạng chính tắc | $(x-a)^2+(y-b)^2+(z-c)^2=R^2$ |
| Tâm $I$, đi qua điểm $A$ | $R=IA$, không cần khai căn vì chỉ dùng $R^2$ | $R^2=IA^2$ |
| Đường kính $AB$ | Tâm là trung điểm $AB$, $R=\dfrac{AB}{2}$ | $R^2=\dfrac{AB^2}{4}$ |
| Tâm $I$, tiếp xúc mặt phẳng $(P)$ | $R=d\left(I,(P)\right)$ | $R=\dfrac{\left|Aa+Bb+Cc+D\right|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}$ |
| Đi qua bốn điểm không đồng phẳng | Dùng dạng tổng quát, thay bốn điểm được hệ bốn phương trình bậc nhất ẩn $a,b,c,d$ | Giải hệ, suy ra $I$ và $R$ |
Riêng kiểu cuối, kinh nghiệm là luôn dùng dạng tổng quát: thay toạ độ từng điểm vào ta được hệ bậc nhất bốn ẩn, giải nhanh hơn nhiều so với việc lập ba phương trình khoảng cách bằng nhau ở dạng chính tắc.
Cho mặt cầu $(S)$ tâm $I$ bán kính $R$ và mặt phẳng $(P)$. Đặt $d=d\left(I,(P)\right)$. Toàn bộ việc xét vị trí tương đối gói trong một phép so sánh:
| So sánh | Vị trí tương đối | Ghi chú tính toán |
|---|---|---|
| $d\gt R$ | $(P)$ và $(S)$ không có điểm chung | Khoảng cách ngắn nhất từ $(P)$ tới $(S)$ là $d-R$ |
| $d=R$ | $(P)$ tiếp xúc $(S)$ tại đúng một điểm | $(P)$ gọi là tiếp diện; tiếp điểm là hình chiếu của $I$ lên $(P)$ |
| $d\lt R$ | $(P)$ cắt $(S)$ theo một đường tròn | Bán kính đường tròn giao tuyến $r=\sqrt{R^2-d^2}$; tâm đường tròn là hình chiếu của $I$ |
Hai hệ quả hay được hỏi: khoảng cách lớn nhất từ một điểm của $(S)$ đến $(P)$ bằng $d+R$, còn khoảng cách nhỏ nhất bằng $\left|d-R\right|$. Khi $d=0$ thì $(P)$ đi qua tâm và cắt mặt cầu theo đường tròn lớn, bán kính đúng bằng $R$.