Trong không gian với hệ toạ độ $Oxyz$, mọi mặt phẳng đều được mô tả trọn vẹn bởi hai dữ kiện: một điểm mà nó đi qua và một hướng vuông góc với nó. Hướng đó chính là vectơ pháp tuyến.
Vectơ $\vec{n}\ne\vec{0}$ gọi là vectơ pháp tuyến của mặt phẳng $(P)$ nếu giá của nó vuông góc với $(P)$. Một mặt phẳng có vô số vectơ pháp tuyến, chúng đôi một cùng phương: nếu $\vec{n}$ là vectơ pháp tuyến thì $k\vec{n}$ với $k\ne 0$ cũng vậy. Vì thế $(2;-3;1)$ và $(-4;6;-2)$ cùng chỉ một hướng pháp tuyến.
Nếu $(P)$ chứa hai vectơ không cùng phương $\vec{u}$ và $\vec{v}$ thì một vectơ pháp tuyến của $(P)$ là tích có hướng $\vec{n}=\left[\vec{u},\vec{v}\right]$. Với $\vec{u}=(u_1;u_2;u_3)$ và $\vec{v}=(v_1;v_2;v_3)$ thì $$\left[\vec{u},\vec{v}\right]=\left(u_2v_3-u_3v_2\ ;\ u_3v_1-u_1v_3\ ;\ u_1v_2-u_2v_1\right).$$
Mặt phẳng đi qua $M_0(x_0;y_0;z_0)$ và nhận $\vec{n}=(A;B;C)$ làm vectơ pháp tuyến có phương trình $$A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0,$$ khai triển ra được dạng tổng quát $Ax+By+Cz+D=0$ với $A^2+B^2+C^2\gt 0$ và $D=-(Ax_0+By_0+Cz_0)$.
Chiều ngược lại quan trọng không kém: nhìn một phương trình $Ax+By+Cz+D=0$ là đọc ngay ra vectơ pháp tuyến $(A;B;C)$. Hằng số $D$ không tham gia vào vectơ pháp tuyến — nó chỉ tịnh tiến mặt phẳng, không đổi hướng của nó.
| Dữ kiện cho | Cách làm | Kết quả |
|---|---|---|
| Một điểm $M_0$ và một vectơ pháp tuyến $\vec{n}=(A;B;C)$ | Thay thẳng vào công thức | $A(x-x_0)+B(y-y_0)+C(z-z_0)=0$ |
| Ba điểm $A$, $B$, $C$ không thẳng hàng | Lấy $\vec{n}=\left[\vec{AB},\vec{AC}\right]$ rồi dùng điểm $A$ | Về lại trường hợp trên |
| Cắt ba trục tại $A(a;0;0)$, $B(0;b;0)$, $C(0;0;c)$ với $abc\ne 0$ | Dùng phương trình theo đoạn chắn | $\dfrac{x}{a}+\dfrac{y}{b}+\dfrac{z}{c}=1$ |
Một biến thể hay gặp: mặt phẳng đi qua $M_0$ và song song với $(Q): Ax+By+Cz+D'=0$ thì giữ nguyên bộ $(A;B;C)$, chỉ tìm lại hằng số tự do bằng cách thay toạ độ $M_0$ vào.
Cho $(P): A_1x+B_1y+C_1z+D_1=0$ và $(Q): A_2x+B_2y+C_2z+D_2=0$ với các vectơ pháp tuyến $\vec{n_1}$, $\vec{n_2}$.
Với $M(x_M;y_M;z_M)$ và $(P): Ax+By+Cz+D=0$ thì $$d\left(M,(P)\right)=\dfrac{\left|Ax_M+By_M+Cz_M+D\right|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}.$$
Hai chỗ hay hỏng: tử số phải lấy giá trị tuyệt đối và phải cộng cả hằng số $D$; mẫu số là căn bậc hai của tổng bình phương ba hệ số, không phải chính tổng đó. Đặc biệt, nếu $(P)$ và $(Q)$ song song thì khoảng cách giữa chúng bằng khoảng cách từ một điểm bất kì của $(P)$ đến $(Q)$; muốn dùng công thức rút gọn $\dfrac{|D_1-D_2|}{\sqrt{A^2+B^2+C^2}}$ thì bắt buộc phải đưa hai phương trình về cùng một bộ hệ số $(A;B;C)$ trước đã.