Thi THPT · Môn Sinh học · Tiến hoá

Học thuyết Darwin và thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Sinh học

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Câu hỏi trung tâm của sinh học tiến hoá rất gọn: vì sao sinh giới lại đa dạng đến thế, và vì sao mỗi loài lại mang những đặc điểm phù hợp một cách đáng kinh ngạc với nơi nó sống? Darwin trả lời câu hỏi đó năm 1859 bằng một cơ chế duy nhất, và gần một thế kỉ sau, khi di truyền học đã trưởng thành, thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại bổ sung cho lời giải ấy phần mà Darwin còn thiếu: nguồn gốc của biến dị và cách biến dị được truyền lại.

1. Ba luận điểm của Darwin

Biến dị. Các cá thể trong cùng một loài không giống hệt nhau. Darwin gọi những sai khác nhỏ phát sinh trong quá trình sinh sản là biến dị cá thể, và ông nhận ra chính loại biến dị này — chứ không phải những biến đổi đồng loạt do ngoại cảnh gây ra — mới là nguyên liệu của chọn lọc.

Di truyền. Biến dị được truyền lại cho đời sau. Darwin thấy rõ hiện tượng này nhưng chưa biết nó xảy ra bằng cơ chế nào.

Chọn lọc tự nhiên. Sinh vật sinh ra nhiều hơn số có thể sống sót, nên chúng phải đấu tranh sinh tồn. Cá thể nào mang biến dị có lợi thì sống sót và sinh sản nhiều hơn, cá thể mang biến dị bất lợi bị đào thải. Qua nhiều thế hệ, đặc điểm có lợi tích luỹ dần, quần thể trở nên thích nghi và các loài mới hình thành từ một tổ tiên chung.

Darwin còn dùng chọn lọc nhân tạo ở vật nuôi, cây trồng làm mô hình đối chiếu: người chăn nuôi giữ lại cá thể hợp ý mình, tự nhiên giữ lại cá thể hợp với môi trường. Cùng một logic, chỉ khác ở chỗ ai là người sàng lọc.

Điểm phải khắc sâu ngay từ đầu: chọn lọc tự nhiên không tạo ra biến dị. Biến dị đã có sẵn trong quần thể trước khi môi trường thay đổi; chọn lọc chỉ đóng vai người sàng, giữ lại cái đã có.

2. Hạn chế của Darwin

Ở thời điểm đó chưa ai biết đến gene, đến nhiễm sắc thể, đến đột biến. Vì vậy Darwin chưa giải thích được nguyên nhân phát sinh biến dị và cơ chế di truyền của biến dị. Ông cũng chưa phân biệt được biến dị di truyền được với biến dị không di truyền được, nên chưa nói rõ được loại nào mới thực sự là nguyên liệu của tiến hoá.

3. Thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại

Thuyết tổng hợp ra đời khi học thuyết Darwin được ghép với di truyền học quần thể. Nó đưa ra hai thay đổi lớn về cách nhìn:

  • Đơn vị tiến hoá cơ sở là quần thể, không phải cá thể. Cá thể không tiến hoá — nó sinh ra với một kiểu gene và chết đi với kiểu gene đó. Cái biến đổi qua các thế hệ là vốn gene của quần thể.
  • Tiến hoá được đo bằng sự thay đổi tần số allele và thành phần kiểu gene của quần thể. Câu này biến một khái niệm mơ hồ thành một đại lượng đếm được.

Tiến hoá nhỏ là quá trình biến đổi tần số allele và thành phần kiểu gene của quần thể, diễn ra trong phạm vi một loài, kết thúc khi xuất hiện sự cách li sinh sản và loài mới ra đời. Quy mô nhỏ, thời gian tương đối ngắn, có thể nghiên cứu bằng thực nghiệm.

Tiến hoá lớn là quá trình hình thành các đơn vị phân loại trên loài — chi, họ, bộ, lớp, ngành — diễn ra trên quy mô rộng và trong thời gian địa chất rất dài, chủ yếu nghiên cứu gián tiếp qua hoá thạch và các bằng chứng so sánh. Hai quá trình không phải hai cơ chế khác nhau: tiến hoá lớn là kết quả cộng dồn của vô số bước tiến hoá nhỏ.

4. Năm nhân tố tiến hoá và tác động lên tần số allele

Nhân tốTác động lên tần số alleleCó hướng?Ghi chú then chốt
Đột biếnLàm thay đổi rất chậm, mỗi gene mỗi thế hệ chỉ khoảng một phần vạn đến một phần trăm nghìnVô hướngNguồn nguyên liệu sơ cấp; tuy tần số thấp nhưng mỗi cá thể có hàng vạn gene và quần thể có rất nhiều cá thể nên tổng số đột biến là đáng kể
Di – nhập geneLàm thay đổi theo cả hai chiều, mức độ tuỳ số cá thể ra vào và mức chênh lệch tần số giữa hai quần thểVô hướngCó thể mang allele hoàn toàn mới đến quần thể nhận; làm các quần thể trong loài giống nhau hơn
Chọn lọc tự nhiênLàm thay đổi theo một hướng xác định, nhanh khi chống lại allele trội, rất chậm khi chống lại allele lặnCó hướngNhân tố duy nhất tạo nên đặc điểm thích nghi; tác động lên kiểu hình nên chỉ đụng tới allele lặn khi nó ở trạng thái đồng hợp
Yếu tố ngẫu nhiênLàm thay đổi đột ngột và không đoán trước; có thể loại bỏ hẳn một allele kể cả allele có lợiVô hướngMạnh ở quần thể kích thước nhỏ; hiệu ứng cổ chai và hiệu ứng người sáng lập đều thuộc nhóm này; làm nghèo vốn gene
Giao phối không ngẫu nhiênKhông làm thay đổi tần số alleleCó hướng (về mặt kiểu gene)Chỉ làm thay đổi thành phần kiểu gene: tỉ lệ đồng hợp tăng, dị hợp giảm qua các thế hệ; làm nghèo vốn gene của quần thể

Cách nhớ gọn: bốn nhân tố đầu đổi tần số allele, nhân tố thứ năm chỉ đổi cách sắp xếp allele thành kiểu gene. Và trong bốn nhân tố đầu, chỉ có chọn lọc tự nhiên đi theo một hướng xác định — ba nhân tố còn lại tác động vô hướng.

5. Hiệu ứng cổ chai — hình dung yếu tố ngẫu nhiên

Sơ đồ hiệu ứng cổ chai: quần thể gốc có bốn loại allele, sau thiên tai chỉ còn hai loại sống sót, quần thể phục hồi số lượng nhưng vốn gene đã nghèo đi Quần thể gốc Thiên tai (cổ chai) Quần thể phục hồi chỉ 2 cá thể sống sót số lượng phục hồi, vốn gene nghèo đi

Bốn màu trong hình là bốn allele khác nhau. Thiên tai giết chết cá thể một cách ngẫu nhiên, không phân biệt cá thể đó mang allele có lợi hay bất lợi — đây chính là điểm khác biệt cốt lõi giữa yếu tố ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên. Sau cổ chai, hai allele biến mất vĩnh viễn; quần thể có thể đông trở lại nhưng sự đa dạng di truyền thì không tự quay về, trừ khi có đột biến mới hoặc di – nhập gene từ nơi khác.

6. Vai trò của giao phối ngẫu nhiên

Giao phối ngẫu nhiên không phải một nhân tố tiến hoá, vì nó không làm thay đổi tần số allele. Nhưng nó giữ một vai trò không thể thiếu: phát tán đột biến khắp quần thể và tổ hợp các allele lại với nhau, tạo ra vô số biến dị tổ hợp — nguồn nguyên liệu thứ cấp của tiến hoá. Nói cách khác, đột biến cung cấp chữ cái, giao phối ngẫu nhiên ghép chúng thành từ, và chọn lọc tự nhiên quyết định từ nào được giữ lại.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Trên một cánh đồng, người ta phun một loại thuốc diệt cỏ mới. Ban đầu gần như toàn bộ cỏ dại bị chết, nhưng sau vài năm phun liên tục thì trên cánh đồng xuất hiện ngày càng nhiều cây cỏ dại không còn bị thuốc tiêu diệt. Hãy giải thích hiện tượng trên theo học thuyết Darwin và theo thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại, đồng thời chỉ ra chỗ mà Darwin chưa nói được.
Trước hết phải gạt bỏ cách giải thích sai mà rất nhiều người nghĩ tới đầu tiên: thuốc diệt cỏ không hề gây ra khả năng kháng thuốc ở cây cỏ. Nếu thuốc tạo ra khả năng kháng thì mọi cây bị phun đều phải sống sót, điều đó trái với thực tế là đợt phun đầu tiên giết gần hết. Theo Darwin, trong quần thể cỏ dại vốn đã tồn tại sẵn những biến dị cá thể, trong đó có biến dị làm cây ít mẫn cảm với hoạt chất của thuốc. Khi thuốc được phun, môi trường trở thành tác nhân đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt: những cây mang biến dị bất lợi bị đào thải, những cây mang biến dị có lợi sống sót và sinh sản. Biến dị đó được di truyền cho đời sau, nên qua vài thế hệ tỉ lệ cây kháng thuốc tăng dần và cả quần thể trở nên thích nghi với loại thuốc đang dùng. Chỗ Darwin chưa trả lời được là: những biến dị ấy từ đâu ra và truyền lại bằng cách nào. Thuyết tiến hoá tổng hợp hiện đại lấp đúng khoảng trống đó. Biến dị kháng thuốc bắt nguồn từ đột biến gene phát sinh ngẫu nhiên trước khi có thuốc, được giao phối phát tán và tổ hợp trong quần thể. Thuốc diệt cỏ đóng vai trò tác nhân chọn lọc, làm tăng tần số allele kháng thuốc và giảm tần số allele mẫn cảm qua từng thế hệ. Vì tiến hoá được đo bằng sự thay đổi tần số allele của quần thể nên đây là một ví dụ tiến hoá nhỏ quan sát được trong vài năm, ngay trên đồng ruộng.
Ví dụ 2. Một quần thể bọ rùa trên đất liền có tần số allele quy định cánh đốm đen là 0,2. Một nhóm 50 con bọ rùa bị gió cuốn ra một hòn đảo hoang và lập nên quần thể mới ở đó; trong nhóm này, tần số allele cánh đốm đen là 0,7. Sau nhiều thế hệ, quần thể đảo phát triển đông đúc và tần số allele cánh đốm đen vẫn giữ quanh mức 0,7. Hãy cho biết nhân tố tiến hoá nào đã tạo ra sự khác biệt giữa hai quần thể và giải thích.
Nhân tố ở đây là yếu tố ngẫu nhiên, cụ thể là dạng thường được gọi là hiệu ứng người sáng lập. Cần nhìn kĩ dữ kiện để không nhầm sang chọn lọc tự nhiên. Nếu là chọn lọc tự nhiên thì sự thay đổi tần số allele phải diễn ra dần dần qua nhiều thế hệ và phải gắn với một lợi thế sống sót hay sinh sản nào đó của cá thể cánh đốm đen trên đảo; đề không hề nêu lợi thế nào như vậy, và sự chênh lệch đã có ngay từ thế hệ đầu tiên, tức là ngay lúc nhóm bọ rùa vừa đặt chân lên đảo. Cơ chế thật đơn giản: 50 con bị gió cuốn đi là một mẫu nhỏ lấy ngẫu nhiên từ quần thể gốc, mà mẫu nhỏ thì rất dễ lệch so với tổng thể. Ngẫu nhiên nhóm này lại giàu allele cánh đốm đen tới mức 0,7 trong khi quần thể gốc chỉ có 0,2. Vì tất cả cá thể trên đảo về sau đều là con cháu của 50 con này nên vốn gene của quần thể đảo được sao lại từ vốn gene lệch đó và giữ nguyên mức 0,7. Hai hệ quả cần nêu thêm cho trọn. Thứ nhất, quần thể đảo gần như chắc chắn nghèo đa dạng di truyền hơn quần thể đất liền, vì 50 cá thể không thể mang đủ toàn bộ các allele đang có trên đất liền. Thứ hai, hiện tượng này cho thấy yếu tố ngẫu nhiên tác động mạnh nhất ở quần thể có kích thước nhỏ, và nó có thể làm một allele hiếm bỗng trở nên phổ biến mà chẳng cần allele đó có lợi chút nào.
Ví dụ 3. Trong một quần thể thực vật ngẫu phối, allele a quy định thân thấp là allele lặn và đang gây bất lợi cho cây. Chọn lọc tự nhiên chống lại kiểu hình thân thấp qua rất nhiều thế hệ nhưng vẫn không loại bỏ hết được allele a ra khỏi quần thể. Hãy giải thích, và cho biết nếu allele bất lợi là allele trội thì tốc độ đào thải sẽ khác đi như thế nào.
Mấu chốt nằm ở chỗ chọn lọc tự nhiên tác động trực tiếp lên kiểu hình chứ không đọc được kiểu gene. Allele a chỉ biểu hiện ra kiểu hình thân thấp khi nó ở trạng thái đồng hợp lặn; còn khi nằm trong cá thể dị hợp thì nó bị allele trội che lấp hoàn toàn, cây vẫn thân cao và vẫn sống sót, sinh sản bình thường. Nói cách khác, mỗi thế hệ chọn lọc chỉ chạm được vào phần allele a đang nằm trong nhóm đồng hợp lặn, còn phần đang ẩn trong nhóm dị hợp thì thoát. Khi tần số allele a còn cao thì nhóm đồng hợp lặn còn đông nên tần số allele a giảm khá nhanh. Nhưng allele càng hiếm thì tỉ lệ nó nằm trong thể dị hợp so với nằm trong thể đồng hợp lại càng lớn, nên phần bị chọn lọc chạm tới ngày càng nhỏ, tốc độ đào thải chậm dần và trên thực tế không bao giờ về hẳn không. Thêm vào đó, đột biến gene vẫn tiếp tục tạo mới allele a với một tần số nhỏ, bù lại phần bị đào thải, nên quần thể duy trì một mức allele a thấp gần như ổn định. Ngược lại, nếu allele bất lợi là allele trội thì mọi cá thể mang nó, dù đồng hợp hay dị hợp, đều biểu hiện ra kiểu hình bất lợi và đều bị chọn lọc đào thải. Không có chỗ nào để allele đó ẩn, nên tần số của nó giảm rất nhanh và có thể bị loại gần như hoàn toàn chỉ sau một số ít thế hệ. Đây là lí do các bệnh di truyền do allele trội gây chết thường rất hiếm, còn các bệnh do allele lặn thì tồn tại dai dẳng trong quần thể người.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Tưởng chọn lọc tự nhiên tạo ra biến dị hoặc tạo ra đặc điểm thích nghi mới. Chọn lọc chỉ là người sàng: biến dị đã có sẵn trong quần thể từ trước nhờ đột biến và giao phối, chọn lọc giữ lại cái có lợi và loại bỏ cái bất lợi. Nói thuốc kháng sinh làm vi khuẩn kháng thuốc là nói ngược chiều nhân quả.
  • Nhầm tiến hoá nhỏ với tiến hoá lớn. Tiến hoá nhỏ xảy ra trong phạm vi một quần thể, đo bằng sự thay đổi tần số allele, kết thúc bằng sự hình thành loài mới. Tiến hoá lớn hình thành các đơn vị phân loại TRÊN loài như chi, họ, bộ. Thấy chữ loài mới là còn thuộc tiến hoá nhỏ, không phải tiến hoá lớn.
  • Xếp giao phối không ngẫu nhiên vào nhóm nhân tố làm thay đổi tần số allele. Tự thụ phấn và giao phối cận huyết chỉ sắp xếp lại allele thành kiểu gene: đồng hợp tăng, dị hợp giảm, còn tần số allele giữ nguyên. Nó vẫn là nhân tố tiến hoá vì làm thay đổi thành phần kiểu gene.
  • Coi giao phối ngẫu nhiên là một nhân tố tiến hoá. Giao phối ngẫu nhiên không làm thay đổi tần số allele lẫn thành phần kiểu gene, nên không phải nhân tố tiến hoá; vai trò của nó là phát tán đột biến và tạo biến dị tổ hợp, tức nguồn nguyên liệu thứ cấp.
  • Cho rằng đột biến có tần số quá thấp nên không đáng kể với tiến hoá. Tần số đột biến của một gene là rất nhỏ, nhưng mỗi cá thể mang hàng vạn gene và quần thể có rất nhiều cá thể, nên tổng số allele mới xuất hiện mỗi thế hệ là con số lớn. Đột biến vẫn là nguồn nguyên liệu sơ cấp.
  • Nhầm yếu tố ngẫu nhiên với chọn lọc tự nhiên khi đọc đề. Dấu hiệu phân biệt: chọn lọc tự nhiên đào thải có hướng, gắn với lợi thế sống sót hoặc sinh sản; yếu tố ngẫu nhiên đào thải không phân biệt cá thể tốt hay xấu, thường gắn với thiên tai, kích thước quần thể nhỏ, hoặc một nhóm nhỏ tách ra lập quần thể mới.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →