Thi THPT · Môn Sinh học · Di truyền nhiễm sắc thể

Nhiễm sắc thể và đột biến nhiễm sắc thể

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Sinh học

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Nhiễm sắc thể là cách tế bào giải một bài toán không gian tưởng như bất khả: nhét gần hai mét DNA vào một cái nhân chỉ vài micromet, mà vẫn phải đọc được, sao chép được và chia đều được cho hai tế bào con. Toàn bộ bài này là hệ quả của cách gói đó — và của những gì xảy ra khi cách gói ấy hỏng.

1. Hình thái và cấu trúc nhiễm sắc thể

Ở sinh vật nhân thực, nhiễm sắc thể được cấu tạo từ chất nhiễm sắc gồm DNA và protein histone. Đơn vị lặp lại của nó là nucleosome: một đoạn DNA mạch kép dài khoảng 146 cặp nucleotide quấn quanh khối cầu tám phân tử histone. Các nucleosome nối tiếp nhau tạo sợi cơ bản đường kính 11 nm, sợi này xoắn tiếp thành sợi nhiễm sắc 30 nm, rồi cuộn thành vùng xếp cuộn 300 nm và cuối cùng là chromatid 700 nm.

Nhiễm sắc thể co xoắn cực đại và dễ quan sát nhất ở kì giữa của nguyên phân. Lúc này mỗi nhiễm sắc thể gồm hai chromatid chị em dính nhau ở tâm động. Vị trí tâm động chia nhiễm sắc thể thành hai cánh và quy định hình thái của nó (tâm giữa, tâm lệch, tâm mút). Hai đầu mút mang các trình tự telomere có vai trò bảo vệ và ngăn các nhiễm sắc thể dính vào nhau.

2. Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội và đơn bội

Tế bào sinh dưỡng mang bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n, trong đó các nhiễm sắc thể tồn tại thành từng cặp tương đồng: một chiếc có nguồn gốc từ bố, một chiếc từ mẹ. Giao tử mang bộ đơn bội n, tức mỗi cặp chỉ còn một chiếc. Người có 2n = 46, ruồi giấm 2n = 8, đậu Hà Lan 2n = 14. Số lượng nhiễm sắc thể không nói lên mức độ tiến hoá của loài — đây là chỗ học sinh hay suy diễn nhầm.

3. Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

Đột biến cấu trúc là những biến đổi trong cách sắp xếp các gene trên một nhiễm sắc thể, phát sinh do nhiễm sắc thể bị đứt gãy rồi nối lại sai, hoặc do trao đổi chéo không cân giữa hai chromatid.

DạngBiến đổiHậu quả và ứng dụng
Mất đoạnNhiễm sắc thể mất một đoạn, số lượng gene giảmThường gây hại nặng, có thể gây chết. Mất đoạn nhỏ được dùng để xác định vị trí gene và loại bỏ gene xấu. Ở người, mất đoạn nhiễm sắc thể số 5 gây hội chứng tiếng mèo kêu
Lặp đoạnMột đoạn được lặp lại một hay nhiều lần, số bản sao của gene tăngLàm tăng hoặc giảm mức biểu hiện của tính trạng. Lặp đoạn ở đại mạch làm tăng hoạt tính amylase, có lợi cho sản xuất bia. Là nguồn nguyên liệu để hình thành gene mới
Đảo đoạnMột đoạn đứt ra, quay 180 độ rồi nối lại; số lượng gene không đổi, trình tự thay đổiThường ít ảnh hưởng tới sức sống. Cơ thể dị hợp đảo đoạn giảm khả năng sinh sản. Nếu đoạn đảo chứa tâm động thì hình thái nhiễm sắc thể đổi theo
Chuyển đoạnĐoạn nhiễm sắc thể chuyển sang vị trí khác trên chính nó hoặc sang nhiễm sắc thể không tương đồngLàm thay đổi nhóm gene liên kết. Chuyển đoạn lớn thường gây chết hoặc mất khả năng sinh sản; chuyển đoạn nhỏ được dùng trong chuyển gene giữa các loài

4. Đột biến số lượng nhiễm sắc thể

Lệch bội là biến đổi số lượng ở một hoặc một số cặp nhiễm sắc thể. Các dạng thường gặp: thể một (2n − 1), thể ba (2n + 1), thể không (2n − 2), thể bốn (2n + 2), thể ba kép (2n + 1 + 1). Cơ chế: một hoặc vài cặp nhiễm sắc thể không phân li trong giảm phân, tạo giao tử thừa hoặc thiếu một chiếc; giao tử này thụ tinh với giao tử bình thường sinh ra hợp tử lệch bội. Ở người, thể ba cặp số 21 gây hội chứng Down.

Đa bội là hiện tượng bộ nhiễm sắc thể tăng lên theo bội số của n và lớn hơn 2n. Có hai kiểu cần phân biệt thật rõ:

Tiêu chíThể tự đa bộiThể dị đa bội
Nguồn gốc bộ nhiễm sắc thểChỉ của một loài, được nhân lênCủa hai loài khác nhau cùng tồn tại trong một tế bào
Cơ chế phát sinhGiao tử 2n kết hợp giao tử n cho 3n; giao tử 2n kết hợp giao tử 2n cho 4n; hoặc tất cả nhiễm sắc thể không phân li trong nguyên phân đầu tiên của hợp tử cho 4nLai xa giữa hai loài tạo con lai bất thụ, sau đó đa bội hoá con lai để mỗi nhiễm sắc thể đều có chiếc tương đồng
Khả năng sinh sảnĐa bội chẵn (4n) thường hữu thụ; đa bội lẻ (3n) bất thụ nên cho quả không hạtHữu thụ, được gọi là thể song nhị bội

Điểm chung của các thể đa bội thực vật là tế bào có hàm lượng DNA tăng, kích thước tế bào lớn, cơ quan sinh dưỡng to, sinh trưởng khoẻ và chống chịu tốt. Đây là lí do đa bội hoá được dùng nhiều trong chọn giống cây trồng nhưng gần như không dùng được ở động vật bậc cao, nơi cơ chế xác định giới tính rất nhạy với số lượng nhiễm sắc thể.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Một loài thực vật có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 16. Hãy xác định số lượng nhiễm sắc thể có trong tế bào sinh dưỡng của các thể đột biến sau: thể một, thể ba, thể ba kép, thể tam bội và thể tứ bội của loài này.
Bước 1 — xác định n. Vì 2n = 16 nên bộ đơn bội n = 8, tức loài có 8 cặp nhiễm sắc thể tương đồng. Bước 2 — nhớ đúng công thức của từng dạng. Lệch bội chỉ đổi số chiếc ở một vài cặp, viết dưới dạng 2n cộng trừ một vài đơn vị; đa bội đổi cả bộ, viết dưới dạng bội số của n. Bước 3 — thay số. Thể một là 2n trừ 1 nên có 16 − 1 = 15 nhiễm sắc thể. Thể ba là 2n cộng 1 nên có 16 + 1 = 17 nhiễm sắc thể. Thể ba kép là 2n cộng 1 cộng 1, tức có hai cặp cùng thừa một chiếc, nên có 16 + 2 = 18 nhiễm sắc thể. Thể tam bội là 3n nên có 3 × 8 = 24 nhiễm sắc thể. Thể tứ bội là 4n nên có 4 × 8 = 32 nhiễm sắc thể. Bước 4 — kiểm chéo. Thể ba kép và thể bốn cùng có 18 nhiễm sắc thể nhưng khác nhau về bản chất: thể ba kép thừa một chiếc ở hai cặp khác nhau, còn thể bốn thừa hai chiếc ở cùng một cặp. Chỉ đếm tổng số nhiễm sắc thể thì không phân biệt được hai dạng này, phải nhìn vào từng cặp.
Ví dụ 2. Ở một loài côn trùng, nhiễm sắc thể số 2 dạng bình thường mang các gene theo trình tự M N O P Q, tiếp đến là tâm động, rồi đến R S T. Trong quần thể phát hiện ba thể đột biến: thể một mang M N O Q, tâm động, R S T; thể hai mang M N O P Q Q, tâm động, R S T; thể ba mang M P O N Q, tâm động, R S T. Hãy gọi tên ba dạng đột biến đó, nêu hậu quả đặc trưng của mỗi dạng và cho biết dạng nào khó phát hiện nhất khi quan sát tiêu bản.
Cách làm chung là đối chiếu từng chữ cái với trình tự gốc M N O P Q tâm động R S T, xem gene nào biến mất, gene nào xuất hiện thêm một lần nữa, đoạn nào bị lật ngược. Thể một là M N O Q tâm động R S T: gene P biến mất, các gene khác giữ nguyên thứ tự, đây là đột biến mất đoạn. Mất đoạn làm giảm số lượng gene nên thường gây hại nặng, mất đoạn lớn có thể gây chết; bù lại mất đoạn nhỏ được dùng để xác định vị trí gene trên nhiễm sắc thể và loại bỏ gene xấu khỏi giống. Thể hai là M N O P Q Q tâm động R S T: gene Q xuất hiện hai lần, không gene nào mất đi, đây là đột biến lặp đoạn. Lặp đoạn làm tăng số bản sao của gene nên có thể làm tăng hoặc làm giảm mức biểu hiện của tính trạng, đồng thời tạo nguyên liệu cho quá trình hình thành gene mới. Thể ba là M P O N Q tâm động R S T: đủ tám gene, không mất không thêm, nhưng đoạn N O P đã bị lật ngược thành P O N, đây là đột biến đảo đoạn. Đảo đoạn ít ảnh hưởng tới sức sống nhưng cơ thể dị hợp đảo đoạn giảm khả năng sinh sản vì trao đổi chéo trong vùng đảo tạo giao tử mất cân bằng gene. Câu hỏi cuối trả lời như sau: thể một ngắn bớt một gene và thể hai dài thêm một gene nên chiều dài cánh mang chúng thay đổi, còn thể ba giữ nguyên cả chiều dài lẫn tỉ lệ hai cánh vì đoạn đảo N O P nằm gọn trong một cánh và không chứa tâm động. Vì vậy thể ba là dạng khó phát hiện nhất trên tiêu bản; muốn thấy phải so trật tự gene chứ không thể chỉ nhìn hình thái nhiễm sắc thể.
Ví dụ 3. Người ta lai cải củ (2n = 18) với cải bắp (2n = 18) thu được con lai F1 sinh trưởng bình thường nhưng bất thụ. Xử lí F1 bằng colchicine thu được cây mới hữu thụ. Hãy giải thích vì sao con lai F1 bất thụ còn cây sau xử lí lại hữu thụ, và cho biết cây mới thuộc dạng đột biến nào.
Con lai F1 nhận 9 nhiễm sắc thể từ cải củ và 9 nhiễm sắc thể từ cải bắp, tổng cộng 18 chiếc trong tế bào. Con số 18 này trùng với 2n của bố mẹ nhưng bản chất hoàn toàn khác: đây không phải 9 cặp tương đồng mà là 18 chiếc đơn lẻ thuộc hai bộ gene khác loài. Ở kì đầu giảm phân I, các nhiễm sắc thể phải bắt đôi với chiếc tương đồng của mình mới xếp hàng và phân li đều được; trong tế bào F1 không chiếc nào có chiếc tương đồng nên quá trình bắt đôi thất bại, giảm phân rối loạn, giao tử tạo ra thiếu hoặc thừa nhiễm sắc thể và không có sức sống. Đó là lí do F1 bất thụ. Colchicine cản trở sự hình thành thoi phân bào, làm toàn bộ nhiễm sắc thể đã nhân đôi không phân li, kết quả là mỗi chiếc đều có thêm một bản sao giống hệt mình. Cây mới có 36 nhiễm sắc thể, gồm 9 cặp tương đồng của cải củ và 9 cặp tương đồng của cải bắp. Nay mọi nhiễm sắc thể đều có bạn để bắt đôi nên giảm phân diễn ra bình thường và cây hữu thụ. Cây mới mang bộ lưỡng bội của hai loài khác nhau nên thuộc dạng thể dị đa bội, còn gọi là thể song nhị bội. Cần phân biệt rõ với thể tự đa bội: tự đa bội chỉ nhân bộ nhiễm sắc thể của một loài lên, không có sự tham gia của loài thứ hai.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Lẫn thể tự đa bội với thể dị đa bội. Cả hai đều có bộ nhiễm sắc thể tăng lên, nhưng thể tự đa bội chỉ nhân bộ của MỘT loài lên nhiều lần, còn thể dị đa bội chứa bộ lưỡng bội của HAI loài khác nhau và chỉ sinh ra sau khi lai xa rồi đa bội hoá con lai. Cứ thấy 4n là gọi tự tứ bội mà không đọc nguồn gốc bộ nhiễm sắc thể là mất điểm.
  • Nhầm thể ba (2n + 1) với thể một (2n − 1) khi đề mô tả bằng lời. Đề nói cặp số 21 có ba chiếc thì đó là thừa một chiếc, tức 2n + 1; đề nói một cặp chỉ còn một chiếc thì đó là thiếu, tức 2n − 1. Đọc lướt chữ ba trong thể ba rồi cộng ba vào 2n là sai gấp ba lần.
  • Nhầm thể ba kép (2n + 1 + 1) với thể bốn (2n + 2). Cả hai đều có tổng số nhiễm sắc thể bằng 2n + 2, nhưng thể ba kép thừa một chiếc ở hai cặp khác nhau, còn thể bốn thừa hai chiếc ở cùng một cặp. Đề hỏi loại thể đột biến thì tổng số nhiễm sắc thể không đủ để trả lời.
  • Cho rằng đảo đoạn hay chuyển đoạn làm thay đổi số lượng gene trên nhiễm sắc thể. Hai dạng này chỉ đổi vị trí và trật tự gene, số lượng gene giữ nguyên; chỉ mất đoạn mới làm giảm và lặp đoạn mới làm tăng số bản sao gene.
  • Coi mọi thể đa bội đều bất thụ. Đa bội LẺ như 3n mới bất thụ, vì bộ nhiễm sắc thể lẻ không phân li đồng đều được về hai cực; đa bội CHẴN như 4n vẫn có đủ cặp tương đồng nên thường hữu thụ. Nhờ tính bất thụ của 3n mà người ta tạo được dưa hấu và nho không hạt.
  • Quên rằng mọi giao tử sinh ra từ MỘT tế bào có cặp nhiễm sắc thể không phân li đều là giao tử đột biến. Một tế bào sinh tinh rối loạn ở giảm phân I cho 4 tinh trùng đều bất thường (hai chiếc n + 1 và hai chiếc n − 1), chứ không phải chỉ một nửa số đó.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →