Thi THPT · Môn Vật lí · Vật lí nhiệt

Cấu trúc chất và sự chuyển thể

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Vật lí

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

1. Mô hình động học phân tử về cấu tạo chất

Mọi chất đều được cấu tạo từ những hạt riêng biệt là phân tử hoặc nguyên tử. Mô hình động học phân tử gồm ba luận điểm, và cả chương Vật lí nhiệt chỉ là hệ quả của ba luận điểm này:

  • Các chất được cấu tạo từ các phân tử có kích thước rất nhỏ, giữa các phân tử có khoảng cách. Chính khoảng cách đó giải thích vì sao trộn 50 ml nước với 50 ml cồn lại không thu được đúng 100 ml hỗn hợp.
  • Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng. Chuyển động này càng nhanh khi nhiệt độ càng cao, nên được gọi là chuyển động nhiệt. Nhiệt độ của vật là số đo động năng trung bình của chuyển động ấy.
  • Giữa các phân tử có đồng thời lực hút và lực đẩy, gọi chung là lực tương tác phân tử. Khi khoảng cách giữa hai phân tử nhỏ thì lực đẩy trội hơn, khi khoảng cách lớn thì lực hút trội hơn, và khi khoảng cách rất lớn thì lực tương tác coi như bằng không.

Chất tồn tại ở thể nào là kết quả của cuộc giằng co giữa chuyển động nhiệt (làm các phân tử tản ra) và lực tương tác phân tử (kéo chúng lại gần nhau).

2. Ba thể của chất

ThểKhoảng cách và sắp xếp phân tửTương quan lực – chuyển độngThể tích và hình dạng
RắnRất gần nhau, sắp xếp trật tự (chất rắn kết tinh có mạng tinh thể)Lực tương tác rất mạnh, phân tử chỉ dao động quanh vị trí cân bằng cố địnhCó thể tích riêng và hình dạng riêng xác định
LỏngGần nhau nhưng sắp xếp kém trật tự hơnLực tương tác đủ mạnh để giữ các phân tử lại, nhưng phân tử vẫn đổi được vị trí cân bằngCó thể tích riêng xác định, không có hình dạng riêng — mang hình dạng của phần bình chứa nó
KhíRất xa nhau so với kích thước phân tửChuyển động nhiệt lấn át hẳn lực tương tácKhông có thể tích riêng, cũng không có hình dạng riêng — chiếm toàn bộ bình chứa

Ghi nhớ nhanh: đi từ rắn sang lỏng rồi sang khí, khoảng cách phân tử tăng dần, trật tự giảm dần, vai trò của lực tương tác giảm dần còn vai trò của chuyển động nhiệt tăng dần.

3. Bốn quá trình chuyển thể

Quá trìnhChiều chuyển thểNhiệtCông thức nhiệt lượng
Nóng chảyRắn thành lỏngThu nhiệt$Q=\lambda m$ với $\lambda$ là nhiệt nóng chảy riêng
Đông đặcLỏng thành rắnToả nhiệt$Q=\lambda m$ (toả ra đúng bằng lượng đã thu vào khi nóng chảy)
Hoá hơiLỏng thành khíThu nhiệt$Q=Lm$ với $L$ là nhiệt hoá hơi riêng
Ngưng tụKhí thành lỏngToả nhiệt$Q=Lm$

Sự hoá hơi có hai hình thức: bay hơi xảy ra trên mặt thoáng ở mọi nhiệt độ, còn sự sôi xảy ra đồng thời trên mặt thoáng và trong lòng chất lỏng, chỉ ở một nhiệt độ xác định gọi là nhiệt độ sôi. Nóng chảy và đông đặc của một chất kết tinh cũng diễn ra ở cùng một nhiệt độ xác định, gọi là nhiệt độ nóng chảy.

4. Đồ thị nhiệt độ theo thời gian và ý nghĩa đoạn nằm ngang

Đun nóng đều một cục nước đá lấy từ tủ đông, đồ thị nhiệt độ theo thời gian gồm năm chặng nối tiếp: đoạn dốc lên (nước đá nóng lên tới 0 °C), đoạn nằm ngang ở 0 °C (nước đá đang nóng chảy), đoạn dốc lên (nước nóng lên tới 100 °C), đoạn nằm ngang ở 100 °C (nước đang sôi và hoá hơi), rồi đoạn dốc lên của hơi nước.

Điểm mấu chốt: trong suốt đoạn nằm ngang, chất vẫn nhận nhiệt lượng nhưng nhiệt độ không đổi. Nhiệt lượng đó không dùng để tăng động năng chuyển động nhiệt (nếu vậy nhiệt độ đã tăng) mà dùng để phá vỡ liên kết giữa các phân tử, tức là làm tăng thế năng tương tác phân tử. Vì vậy đoạn nằm ngang càng dài khi khối lượng chất càng lớn hoặc nhiệt nóng chảy riêng càng lớn.

Đại lượngKý hiệu, đơn vịÝ nghĩa
Nhiệt dung riêng$c$, đơn vị J/(kg·K)Nhiệt lượng cần để 1 kg chất tăng thêm 1 K khi chưa chuyển thể: $Q=mc\Delta t$
Nhiệt nóng chảy riêng$\lambda$, đơn vị J/kgNhiệt lượng cần để làm nóng chảy hoàn toàn 1 kg chất ở nhiệt độ nóng chảy
Nhiệt hoá hơi riêng$L$, đơn vị J/kgNhiệt lượng cần để làm hoá hơi hoàn toàn 1 kg chất lỏng ở nhiệt độ sôi

Quy tắc làm bài nhiều chặng: vẽ trục nhiệt độ, đánh dấu các mốc chuyển thể, chia bài thành từng chặng rồi cộng nhiệt lượng của các chặng lại. Chặng nào nhiệt độ thay đổi thì dùng $Q=mc\Delta t$; chặng nào nhiệt độ đứng yên thì dùng $Q=\lambda m$ hoặc $Q=Lm$. Bỏ sót một chặng là thiếu hẳn một số hạng, và kết quả vẫn trông rất giống một phương án có sẵn.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Tính nhiệt lượng cần cung cấp để làm nóng chảy hoàn toàn 4 kg chì đang ở nhiệt độ nóng chảy 327 °C. Biết nhiệt nóng chảy riêng của chì là 0,25·10⁵ J/kg.

Nhận dạng: chì đã ở đúng nhiệt độ nóng chảy nên bài chỉ có một chặng duy nhất là chặng nóng chảy, không có chặng đun nóng. Vì vậy chỉ dùng công thức $Q=\lambda m$, không được cộng thêm số hạng $mc\Delta t$ nào.

Thay số: $Q=\lambda m=0{,}25\cdot 10^{5}\cdot 4=1\cdot 10^{5}$ J, tức 100 kJ.

Kiểm tra thứ nguyên: $\lambda$ có đơn vị J/kg, nhân với khối lượng tính bằng kilôgam thì ra jun, đúng đơn vị của nhiệt lượng. Nếu đề cho nhiệt độ ban đầu thấp hơn 327 °C thì phải thêm chặng đun nóng chì rắn từ nhiệt độ đó lên 327 °C, khi ấy kết quả sẽ lớn hơn.

Ý nghĩa của con số: trong suốt thời gian nhận $1\cdot 10^{5}$ J này, nhiệt độ của chì vẫn đứng yên ở 327 °C. Toàn bộ năng lượng đi vào việc phá vỡ mạng tinh thể chứ không làm nóng thêm khối chì.

Ví dụ 2. Đun 1 kg nước từ 30 °C cho tới khi hoá hơi hoàn toàn ở 100 °C. Biết nhiệt dung riêng của nước là 4200 J/(kg·K) và nhiệt hoá hơi riêng của nước là 2,3·10⁶ J/kg. Tính tổng nhiệt lượng cần cung cấp.

Nhận dạng: quá trình gồm hai chặng. Chặng 1 nhiệt độ thay đổi từ 30 °C lên 100 °C, chặng 2 nhiệt độ đứng yên ở 100 °C trong khi nước hoá hơi.

Chặng 1 — đun nóng: $Q_1=mc\Delta t=1\cdot 4200\cdot (100-30)=4200\cdot 70=294\,000$ J.

Chặng 2 — hoá hơi: $Q_2=Lm=2{,}3\cdot 10^{6}\cdot 1=2\,300\,000$ J.

Tổng: $Q=Q_1+Q_2=294\,000+2\,300\,000=2\,594\,000$ J, tức khoảng $2{,}594\cdot 10^{6}$ J.

Nhận xét đáng nhớ: chặng hoá hơi ngốn nhiều năng lượng gấp gần tám lần chặng đun từ 30 °C lên 100 °C. Đó là lý do một ấm nước sôi rất nhanh nhưng cạn thì rất lâu, và cũng là lý do bỏng hơi nước nặng hơn hẳn bỏng nước sôi cùng nhiệt độ: hơi nước khi ngưng tụ trên da còn nhả thêm phần nhiệt $Lm$ ấy ra.

Ví dụ 3. Đun nóng đều một cục nước đá lấy từ tủ đông ở −20 °C. Hãy mô tả đồ thị nhiệt độ theo thời gian cho tới khi nước đá tan hết và giải thích vì sao đồ thị có một đoạn nằm ngang.

Đồ thị gồm hai chặng nối tiếp. Chặng đầu là một đoạn dốc lên: nước đá nhận nhiệt và nóng dần từ −20 °C tới 0 °C, nhiệt lượng dùng để tăng động năng dao động của các phân tử quanh nút mạng tinh thể, nên nhiệt độ tăng.

Chặng sau là một đoạn nằm ngang ở 0 °C: nước đá bắt đầu nóng chảy. Trong suốt chặng này nguồn nhiệt vẫn cấp nhiệt đều đặn, cục nước đá vẫn nhận nhiệt lượng, nhưng nhiệt kế đứng yên ở 0 °C cho tới khi mẩu nước đá cuối cùng tan hết.

Giải thích theo mô hình động học phân tử: nhiệt lượng cấp vào lúc này không làm tăng động năng chuyển động nhiệt của phân tử mà dùng để phá vỡ trật tự của mạng tinh thể, tức là làm tăng thế năng tương tác giữa các phân tử. Nhiệt độ chỉ đo động năng trung bình, mà đại lượng này không đổi, nên nhiệt độ không đổi.

Hệ quả có thể kiểm chứng: nếu tăng gấp đôi khối lượng cục nước đá thì đoạn nằm ngang dài gấp đôi, vì nhiệt lượng cần thiết $Q=\lambda m$ tăng gấp đôi trong khi công suất nguồn nhiệt giữ nguyên.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Quên rằng nhiệt độ không đổi trong lúc chuyển thể. Nhiều bạn cộng thêm một số hạng $mc\Delta t$ cho chính đoạn nóng chảy hoặc đoạn sôi. Trong suốt hai đoạn đó nhiệt độ đứng yên nên $\Delta t=0$, chỉ có $Q=\lambda m$ hoặc $Q=Lm$ mà thôi.
  • Nhầm nhiệt nóng chảy riêng với nhiệt dung riêng. Nhiệt nóng chảy riêng có đơn vị J/kg còn nhiệt dung riêng có đơn vị J/(kg·K). Cứ nhìn đơn vị là phân biệt được: đại lượng nào có chữ K ở mẫu thì đi kèm với độ chênh nhiệt độ, đại lượng nào không có thì đứng một mình.
  • Bỏ sót một chặng của bài nhiều giai đoạn. Bài đưa nước đá từ −20 °C thành nước ở 40 °C có tới ba chặng: đun nước đá, nóng chảy, đun nước. Bỏ chặng nào cũng ra một con số vẫn trông hợp lý, nên phải vẽ trục nhiệt độ và đánh dấu mốc chuyển thể trước khi tính.
  • Dùng nhầm nhiệt dung riêng của nước cho nước đá. Nước đá có $c$ khoảng 2100 J/(kg·K), nước lỏng có $c$ bằng 4200 J/(kg·K) — chênh nhau đúng hai lần. Mỗi chặng phải dùng nhiệt dung riêng của chất ở thể tương ứng trong chặng đó.
  • Quên đổi đơn vị. Khối lượng phải tính bằng kilôgam chứ không phải gam, và khi đề hỏi kết quả theo kJ thì phải chia cho 1000 sau khi tính ra jun. Đây là lỗi cho ra con số lệch đúng 1000 lần mà vẫn đúng dạng phương án.
  • Lẫn sự bay hơi với sự sôi. Bay hơi xảy ra ở mọi nhiệt độ và chỉ trên mặt thoáng; sự sôi chỉ xảy ra ở nhiệt độ sôi và diễn ra cả trong lòng chất lỏng. Nói "chất lỏng chỉ bay hơi khi đạt nhiệt độ sôi" là sai, vì quần áo phơi ngoài trời vẫn khô ở nhiệt độ thường.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →