Thi THPT · Môn Hoá học · Đại cương kim loại

Hợp kim và ăn mòn kim loại

Làm 17 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Hoá học

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

1. Hợp kim

Hợp kim là vật liệu kim loại có chứa một kim loại cơ bản cùng với một số kim loại hoặc phi kim khác. Thép là hợp kim của sắt với carbon trong đó hàm lượng carbon dưới 2%; gang cũng là hợp kim sắt với carbon nhưng hàm lượng carbon từ 2% đến 5%; đồng thau là hợp kim của đồng với kẽm; duralumin là hợp kim của nhôm với đồng, magnesium và một số nguyên tố khác.

So với các kim loại thành phần, hợp kim thường có những khác biệt sau:

  • Cứng hơn và giòn hơn. Nguyên tử của nguyên tố thêm vào có bán kính khác nên làm méo mạng tinh thể, các lớp nguyên tử khó trượt lên nhau, vật liệu vì thế cứng hơn.
  • Nhiệt độ nóng chảy thấp hơn. Mạng tinh thể không còn đều đặn nên liên kết kim loại yếu đi, hợp kim chảy lỏng ở nhiệt độ thấp hơn kim loại nguyên chất. Hợp kim hàn thiếc chì chảy ở khoảng 180 độ C là ví dụ quen thuộc.
  • Dẫn điện, dẫn nhiệt kém hơn vì các nguyên tử lạ cản trở dòng electron tự do.
  • Tính chất hoá học thì vẫn giữ tính chất của các kim loại thành phần. Đây là lí do hợp kim Al–Cu vẫn tan phần nhôm trong dung dịch NaOH, còn đồng thau vẫn tan phần kẽm trong dung dịch HCl.

2. Hai loại ăn mòn kim loại

Ăn mòn kim loại là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim do tác dụng của các chất trong môi trường. Bản chất chung là kim loại bị oxi hoá: M → Mn+ + ne. Điểm khác nhau nằm ở chỗ electron đi thẳng hay đi vòng.

Tiêu chíĂn mòn hoá họcĂn mòn điện hoá học
Đường đi của electronKim loại nhường electron trực tiếp cho chất oxi hoá khi va chạmElectron đi vòng qua dây dẫn hoặc qua chỗ tiếp xúc, từ cực âm sang cực dương
Có dòng điện khôngKhông phát sinh dòng điệnCó dòng electron chuyển dời, tức có dòng điện
Điều kiệnChỉ cần kim loại tiếp xúc chất oxi hoáPhải hội đủ ba điều kiện, xem mục 3
Tốc độChậm, tăng theo nhiệt độNhanh hơn nhiều, đây là dạng ăn mòn gây thiệt hại chủ yếu trong thực tế
Ví dụĐốt dây sắt trong khí chlorine; thanh sắt nguyên chất tan trong dung dịch HCl; ống thép dẫn hơi nước nóng bị oxi hoáGang thép gỉ trong không khí ẩm; vỏ tàu biển bị ăn mòn; thanh kẽm tiếp xúc thanh đồng cùng nhúng dung dịch acid

3. Ba điều kiện của ăn mòn điện hoá học

Phải hội đủ cả ba, thiếu một điều kiện là kết luận sai:

  1. hai điện cực khác bản chất: hai kim loại khác nhau, hoặc kim loại với phi kim như cặp Fe và C trong gang thép, hoặc kim loại với hợp chất dẫn điện.
  2. Hai điện cực tiếp xúc trực tiếp với nhau hoặc nối với nhau bằng dây dẫn.
  3. Cả hai cùng tiếp xúc với một dung dịch chất điện li, chẳng hạn nước biển, nước mưa hoà tan khí, hoặc không khí ẩm.

Cực nào bị ăn mòn. Kim loại có tính khử mạnh hơn, tức đứng trước trong dãy hoạt động, đóng vai trò cực âm (anot của pin) và bị oxi hoá, tan dần. Kim loại còn lại là cực dương và được bảo vệ, tại đó chỉ xảy ra quá trình khử của môi trường. Đây là câu phải thuộc: cực âm bị ăn mòn trước.

Ví dụ gang thép để trong không khí ẩm: vô số tinh thể Fe và C tiếp xúc nhau tạo thành vô số pin nhỏ li ti.

  • Cực âm là các tinh thể sắt: Fe → Fe2+ + 2e.
  • Cực dương là các tinh thể carbon: O2 + 2H2O + 4e → 4OH khi môi trường trung tính hoặc base, còn khi môi trường acid thì 2H+ + 2e → H2.

Ion Fe2+ tiếp tục bị oxygen không khí oxi hoá thành Fe3+ rồi kết hợp với nước tạo gỉ sắt màu nâu đỏ có thành phần chính là Fe2O3 ngậm nước.

4. Chống ăn mòn kim loại

Phương phápCách làmCơ chế
Bảo vệ bề mặtSơn, tráng men, bôi dầu mỡ, mạ một lớp kim loại khác, tạo lớp oxide bềnCách li kim loại khỏi môi trường; nhược điểm là lớp phủ vỡ ở đâu thì ăn mòn khởi phát ở đó
Bảo vệ điện hoá bằng anot hi sinhGắn khối kẽm vào vỏ tàu thép, nối ống thép chôn dưới đất với khối magnesiumKim loại gắn thêm hoạt động mạnh hơn nên làm cực âm và bị ăn mòn thay; vật cần bảo vệ trở thành cực dương nên không tan
Chế tạo hợp kim chống gỉThép không gỉ chứa chromium và nickelTạo lớp oxide bền, kín, bám chắc trên bề mặt
Xử lí môi trườngDùng chất ức chế, hút ẩm, hạ nồng độ chất điện liLàm mất điều kiện thứ ba của ăn mòn điện hoá

Điểm dễ nhầm nhất của mục này: khi mạ thiếc lên sắt thì lớp thiếc chỉ bảo vệ theo kiểu bề mặt. Nếu lớp thiếc bị trầy xước, cặp Fe và Sn tiếp xúc nhau trong không khí ẩm sẽ tạo pin điện hoá và chính sắt bị ăn mòn nhanh hơn cả khi không mạ. Ngược lại, mạ kẽm lên sắt là bảo vệ theo kiểu điện hoá: lớp kẽm trầy xước vẫn tiếp tục hi sinh để giữ cho sắt nguyên vẹn.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Giải thích vì sao một vật bằng gang để trong không khí ẩm lại bị gỉ nhanh hơn hẳn một vật bằng sắt nguyên chất trong cùng điều kiện. Chỉ rõ cực âm, cực dương và viết các quá trình xảy ra.

Bước 1 — nhận dạng loại ăn mòn ở từng vật. Sắt nguyên chất trong không khí ẩm chỉ bị ăn mòn hoá học, nghĩa là các nguyên tử sắt nhường electron trực tiếp cho oxygen khi va chạm, quá trình này chậm vì không có đường dẫn electron nào thuận lợi.

Bước 2 — soi ba điều kiện với vật bằng gang. Gang là hợp kim của sắt với carbon nên trong khối vật liệu có vô số tinh thể Fe nằm sát vô số tinh thể C, đó là hai điện cực khác bản chất, thoả điều kiện thứ nhất. Chúng nằm sát nhau trong cùng một khối nên tiếp xúc trực tiếp, thoả điều kiện thứ hai. Lớp nước mỏng hấp phụ trên bề mặt có hoà tan khí carbon dioxide và oxygen nên là dung dịch chất điện li, thoả điều kiện thứ ba. Hội đủ ba điều kiện nên gang bị ăn mòn điện hoá học.

Bước 3 — xác định cực và viết quá trình. Sắt có tính khử mạnh hơn carbon nên các tinh thể sắt là cực âm và bị oxi hoá: Fe → Fe2+ + 2e. Các tinh thể carbon là cực dương, tại đó oxygen của không khí nhận electron: O2 + 2H2O + 4e → 4OH.

Bước 4 — kết luận. Electron được dẫn liên tục từ vùng sắt sang vùng carbon nên phản ứng không bị dừng lại, tốc độ ăn mòn lớn hơn nhiều so với ăn mòn hoá học. Ion Fe2+ sinh ra bị oxygen oxi hoá tiếp thành Fe3+ rồi tạo gỉ nâu đỏ Fe2O3 ngậm nước. Vì vậy vật bằng gang gỉ nhanh hơn vật bằng sắt nguyên chất.

Ví dụ 2. Cho một thanh nhôm tiếp xúc trực tiếp với một thanh đồng rồi nhúng cả hai vào dung dịch HCl loãng. Nêu hiện tượng, cho biết thanh nào bị ăn mòn và viết quá trình xảy ra ở mỗi cực.

Bước 1 — kiểm ba điều kiện. Nhôm và đồng là hai kim loại khác bản chất, đó là điều kiện thứ nhất. Đề nói hai thanh tiếp xúc trực tiếp, đó là điều kiện thứ hai. Dung dịch HCl loãng là chất điện li và cả hai thanh cùng nhúng vào, đó là điều kiện thứ ba. Hội đủ ba nên hệ xảy ra ăn mòn điện hoá học.

Bước 2 — xác định cực. Nhôm đứng trước đồng rất xa trong dãy hoạt động, tính khử mạnh hơn hẳn, nên thanh nhôm đóng vai trò cực âm và bị ăn mòn; thanh đồng là cực dương và được bảo vệ, khối lượng không đổi.

Bước 3 — viết quá trình. Ở cực âm là thanh nhôm: Al → Al3+ + 3e. Ở cực dương là thanh đồng, môi trường acid nên ion H+ nhận electron: 2H+ + 2e → H2. Cân bằng electron cho phản ứng tổng: 2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2.

Bước 4 — hiện tượng quan sát được. Bọt khí thoát ra chủ yếu ở bề mặt thanh đồng chứ không phải ở thanh nhôm, đây là dấu hiệu nhận biết ăn mòn điện hoá bằng mắt thường. Thanh nhôm mòn dần và mỏng đi, dung dịch xuất hiện ion Al3+. Nếu tách rời hai thanh, nhôm vẫn tan trong HCl nhưng chậm hơn nhiều vì lúc đó chỉ còn ăn mòn hoá học.

Ví dụ 3. Cho 12 gam hợp kim Mg–Ag vào dung dịch HCl dư, khuấy đều đến khi phản ứng kết thúc thu được 0,2 mol khí H2. Tính phần trăm khối lượng mỗi kim loại trong hợp kim. Cho Mg = 24, Ag = 108.

Bước 1 — xác định kim loại nào phản ứng. Trong hợp kim Mg–Ag, chỉ magnesium đứng trước hydrogen nên tác dụng được với dung dịch HCl; bạc đứng sau hydrogen nên không tan, còn lại nguyên dạng chất rắn. Tính chất hoá học của hợp kim vẫn là tính chất của từng kim loại thành phần, đây là điểm mấu chốt của bài.

Bước 2 — viết phương trình và lập tỉ lệ: Mg + 2HCl → MgCl2 + H2. Tỉ lệ mol giữa magnesium và khí hydrogen là 1 : 1, nên nMg = nH2 = 0,2 mol.

Bước 3 — tính khối lượng từng kim loại. Khối lượng magnesium là 0,2 · 24 = 4,8 gam. Khối lượng bạc là phần còn lại: 12 − 4,8 = 7,2 gam.

Bước 4 — tính phần trăm. Phần trăm khối lượng magnesium là 4,8 : 12 · 100 = 40%. Phần trăm khối lượng bạc là 7,2 : 12 · 100 = 60%. Cộng lại đúng bằng 100% nên kết quả nhất quán.

Bước 5 — kiểm chéo bằng số mol bạc: 7,2 : 108 = 0,0667 mol, một giá trị dương hợp lí, không mâu thuẫn với dữ kiện nào. Lưu ý nếu vội lấy toàn bộ 12 gam hợp kim để tính số mol theo phương trình thì kết quả sẽ sai vì bạc hoàn toàn không tham gia phản ứng.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Kết luận có ăn mòn điện hoá mà thiếu một trong ba điều kiện. Phải hội đủ: hai điện cực khác bản chất, tiếp xúc với nhau, cùng nhúng trong dung dịch chất điện li. Thanh sắt nguyên chất trong dung dịch HCl thiếu điều kiện thứ nhất; hai thanh kim loại khác nhau nhúng vào hai cốc riêng thiếu điều kiện thứ hai; hai thanh chạm nhau nhưng để trong không khí thật khô thiếu điều kiện thứ ba. Cả ba trường hợp đều chỉ là ăn mòn hoá học.
  • Nhầm cực nào bị ăn mòn. Kim loại có tính khử mạnh hơn, tức đứng trước trong dãy hoạt động, mới là cực âm và bị oxi hoá tan dần; kim loại yếu hơn là cực dương và được bảo vệ. Với cặp Zn và Cu thì kẽm mòn, với cặp Fe và Sn thì sắt mòn, với cặp Fe và Zn thì kẽm mòn còn sắt nguyên vẹn. Nhớ nhầm chiều là mọi kết luận phía sau đều ngược.
  • Tưởng mạ thiếc và mạ kẽm bảo vệ sắt như nhau. Lớp thiếc chỉ bảo vệ bằng cách cách li bề mặt; khi lớp thiếc bị trầy xước, cặp Fe và Sn tạo pin điện hoá và sắt bị ăn mòn còn nhanh hơn khi chưa mạ. Lớp kẽm thì ngược lại, dù bị xước vẫn tiếp tục hi sinh thay cho sắt vì kẽm hoạt động mạnh hơn.
  • Cho rằng hợp kim có tính chất hoá học mới, khác kim loại thành phần. Hợp kim chỉ khác về tính chất vật lí như độ cứng, nhiệt độ nóng chảy, độ dẫn điện. Về hoá học, hợp kim Al–Cu vẫn tan phần nhôm trong dung dịch NaOH, đồng thau vẫn tan phần kẽm trong dung dịch HCl. Bài tập hợp kim vì thế phải tách riêng từng kim loại rồi mới tính.
  • Nói hợp kim cứng hơn nên cũng nóng chảy ở nhiệt độ cao hơn. Hai tính chất này đi ngược chiều nhau. Nguyên tử lạ làm méo mạng tinh thể nên các lớp nguyên tử khó trượt, vật liệu cứng hơn; nhưng cũng chính sự méo mạng đó làm liên kết kim loại yếu đi, nên nhiệt độ nóng chảy của hợp kim thường thấp hơn kim loại thành phần.
  • Viết nhầm quá trình ở cực dương khi gang thép gỉ trong không khí ẩm. Môi trường trung tính hoặc base thì oxygen nhận electron theo O2 + 2H2O + 4e → 4OH, chỉ khi môi trường acid mới là 2H+ + 2e → H2. Ngoài ra sản phẩm ban đầu ở cực âm là Fe2+ chứ không phải Fe3+; ion Fe3+ chỉ sinh ra sau khi Fe2+ bị oxygen oxi hoá tiếp.

17 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →