Thi THPT · Môn Tiếng Anh · Đọc hiểu

Câu hỏi suy luận trong bài đọc hiểu

Làm 12 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Tiếng Anh

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Trong hai bài đọc hiểu của đề tiếng Anh, câu suy luận (inference) là loại làm mất điểm nhiều nhất, vì học sinh quen tìm câu trả lời có sẵn trong bài. Suy luận thì không có sẵn — nhưng cũng không phải đoán. Nguyên tắc gốc: đáp án đúng của một câu suy luận vẫn phải chứng minh được bằng câu chữ trong bài. Nếu ta không chỉ ra được câu nào đỡ cho phương án mình chọn, thì đó là đoán chứ không phải suy luận.

Câu suy luận khác câu chi tiết ở đâu

Câu chi tiết (detail)Câu suy luận (inference)
Câu hỏi hay mở đầu bằngAccording to paragraph 2, What does the writer say about…It can be inferred that, The passage suggests that, most likely, imply
Đáp án nằm ở đâuMột câu duy nhất trong bài, chỉ đổi cách diễn đạtKhông câu nào nói thẳng; phải ghép hai chi tiết hoặc đọc hàm ý
Cách kiểmChỉ đúng một dòng là xongChỉ ra dòng làm bằng chứng, rồi giải thích một bước lập luận
Bẫy chínhParaphrase sai một chữ (số liệu, phủ định)Suy quá xa hoặc dùng thông tin đúng nhưng lạc câu hỏi

Các từ khoá báo hiệu câu suy luận

Chỉ cần thấy một trong các từ sau là biết mình đang làm câu suy luận, và phải đổi cách làm: suggest, imply, indicate, most likely, probably, can be inferred, it is implied that, the writer would agree that. Ngược lại, according tostate báo hiệu câu chi tiết — với loại này, phương án nào đòi ta suy thêm một bước là phương án sai.

Quy trình ba bước để loại phương án

  1. Khoanh vùng. Câu hỏi thường nói rõ đoạn nào (in paragraph 3) hoặc nêu một từ khoá dễ dò. Đọc kỹ hai đến ba câu quanh vùng đó, không đọc lại cả bài.
  2. Tự trả lời trước khi nhìn phương án. Nói thầm một câu tiếng Việt: bài đang ngụ ý điều gì mà không nói ra? Bước này quan trọng vì nó chặn việc bị bốn phương án dẫn dắt.
  3. Đối chiếu từng phương án với bằng chứng. Với mỗi phương án hãy hỏi: câu nào trong bài đỡ cho nó? Không chỉ ra được câu nào thì loại. Còn lại hai phương án đều có bằng chứng thì hỏi tiếp: phương án nào cần ít bước suy hơn? Chọn phương án đó.

Bốn kiểu bẫy hay gặp

  1. Suy diễn quá xa. Phương án đi đúng hướng của bài nhưng thêm một bước mà bài không cho phép. Bài nói một quán sửa đồ từ chối một phần năm số món; phương án suy thành đồ điện tử ngày nay không đáng sửa nữa. Đúng hướng, sai độ.
  2. Thông tin có trong bài nhưng không trả lời câu hỏi. Đây là bẫy khó bỏ nhất, vì học sinh dò thấy đúng chữ trong bài nên yên tâm chọn. Cách chặn: đọc lại đúng câu hỏi sau khi đã chọn, xem phương án có trả lời câu hỏi đó không.
  3. Đảo chiều quan hệ. Bài nói A dẫn tới B, phương án viết B dẫn tới A; hoặc bài nói số lượng người đến tăng còn số món sửa gần như đứng yên, phương án đổi vai hai con số. Với câu có hai đại lượng, luôn kiểm lại chiều nhân quả và ai nhiều hơn ai.
  4. Tuyệt đối hoá. Phương án dùng những chữ như all, only, every, impossible trong khi bài chỉ viết most, usually, about one in five. Bài đọc học thuật hiếm khi nói tuyệt đối, nên một phương án tuyệt đối cần bằng chứng tuyệt đối mới được chọn.

Một lời nhắc về thời gian. Câu suy luận tốn gấp rưỡi câu chi tiết. Chiến thuật hợp lý là làm hết câu chi tiết và câu từ vựng trước, ghi lại số câu suy luận còn nợ, rồi quay lại. Đừng để một câu suy luận khó ăn mất thời gian của bốn câu dễ phía sau.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. Ngữ liệu: “The museum stopped printing paper maps in 2022. Since then the number of visitors asking staff for directions has trebled, and two more guides have been hired for the ground floor.” Câu hỏi: It can be inferred from the passage that the decision to stop printing maps ______. (A. saved the museum less than it expected · B. was welcomed by most of the guides · C. reduced the number of visitors that year · D. had been discussed for several years)
Đáp án là (A). Bài không hề nói câu nào kiểu tiết kiệm được ít hơn dự tính, nên đây là câu suy luận thật sự. Bằng chứng gồm hai chi tiết đặt cạnh nhau: bảo tàng bỏ in bản đồ giấy để cắt chi phí, nhưng ngay sau đó “the number of visitors asking staff for directions has trebled, and two more guides have been hired”. Thuê thêm hai người là một khoản chi mới, phát sinh đúng vì bỏ bản đồ, nên khoản tiết kiệm bị ăn mòn. Đây là suy luận một bước, có câu chữ đỡ. Phương án (B) rơi vào bẫy thông tin không có trong bài: bài không nói gì về thái độ của hướng dẫn viên. Phương án (C) là bẫy đảo chiều, bài nói số người hỏi đường tăng chứ không nói tổng lượng khách giảm, hai đại lượng khác nhau. Phương án (D) suy diễn quá xa, vì bài chỉ cho một mốc thời gian là năm 2022, không có dòng nào về quá trình bàn bạc trước đó.
Ví dụ 2. Ngữ liệu: “Ha wrote down every word the lecturer said. Her classmate Minh filled only half a page, but he stopped four times to ask why. In the test a month later, Minh remembered more.” Câu hỏi: The example of Minh most likely suggests that ______. (A. short notes are always better than long notes · B. lecturers should speak more slowly in class · C. understanding while listening helps memory later · D. Ha spent less time revising than Minh did)
Đáp án là (C). Câu hỏi có cụm most likely suggests nên đây là câu suy luận, và ta phải ghép ba chi tiết: Minh ghi ít hơn hẳn, nhưng “he stopped four times to ask why”, và một tháng sau “Minh remembered more”. Điều bài ngụ ý là chính việc dừng lại để hiểu trong lúc nghe mới tạo ra trí nhớ bền, chứ không phải độ dài của ghi chép. Phương án (A) rơi đúng vào bẫy tuyệt đối hoá: bài chỉ kể một trường hợp, không cho phép kết luận ghi ngắn luôn tốt hơn ghi dài. Phương án (B) là thông tin nằm ngoài bài, không có dòng nào bàn tới tốc độ nói của giảng viên. Phương án (D) thêm một dữ kiện mà bài không cung cấp, vì bài không nói gì về thời gian ôn tập của hai bạn; đây là bẫy suy diễn quá xa dựa trên một giả định riêng của người đọc.
Ví dụ 3. Ngữ liệu: “The committee received 180 designs in the first year and 172 in the second. The chairman called the second year a success: the designs came from 34 schools instead of 11.” Câu hỏi: It can be inferred that the chairman judged success mainly by ______. (A. the total number of designs sent in · B. how widely the contest had spread · C. the quality of the winning entries · D. the money the committee had saved)
Đáp án là (B). Bài cho hai cặp số liệu đối nhau: số bài dự thi hầu như không đổi, thậm chí giảm nhẹ từ 180 xuống 172, trong khi số trường tham gia tăng vọt từ 11 lên 34. Chủ tịch vẫn gọi năm thứ hai là thành công, nên tiêu chí ông dùng phải là con số đang tăng, tức mức độ lan rộng của cuộc thi. Đây là suy luận dựa trên việc so hai đại lượng, không phải đoán. Phương án (A) là bẫy đảo chiều kinh điển: nó lấy đúng con số có trong bài nhưng là con số đi ngược với đánh giá thành công. Phương án (C) đưa vào tiêu chí chất lượng mà bài không hề nhắc tới. Phương án (D) cũng là thông tin ngoài bài, vì không có câu nào bàn về chi phí hay tiền tiết kiệm của ban tổ chức.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Chọn phương án chỉ vì thấy chữ của nó xuất hiện trong bài. Trùng chữ là dấu hiệu của bẫy nhiều hơn là dấu hiệu của đáp án, nhất là ở câu suy luận.
  • Suy thêm một bước mà bài không cho phép. Sau khi chọn xong hãy tự hỏi: bài có đủ dữ kiện để đi tới kết luận này chưa, hay ta đang mượn kiến thức đời sống của chính mình.
  • Bỏ qua các từ hạn định. Bài viết most, usually, about one in five mà phương án viết all, only, every thì gần như chắc chắn là phương án sai.
  • Đảo chiều quan hệ giữa hai đại lượng hoặc giữa nguyên nhân và kết quả. Với câu có hai con số, hãy đọc lại xem con số nào tăng, con số nào gần như đứng yên.
  • Không đọc lại câu hỏi sau khi chọn. Rất nhiều phương án đúng về nội dung nhưng không trả lời đúng câu hỏi đang được đặt ra.
  • Dùng hết thời gian cho một câu suy luận khó rồi bỏ dở các câu chi tiết dễ ăn điểm phía sau. Nợ câu khó lại, làm câu dễ trước, rồi quay về.

12 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →