Lý thuyết cần nắm
Câu hỏi chi tiết (detail question) là loại chiếm số lượng lớn nhất trong hai bài đọc hiểu của đề tiếng Anh, và cũng là loại đáng ăn điểm nhất: đáp án nằm sẵn trong bài, không cần suy luận, không cần đoán ý tác giả. Đây chính là chỗ khác hẳn câu suy luận. Với câu suy luận, ta phải ghép hai chi tiết hoặc đọc hàm ý rồi mới ra kết luận. Với câu chi tiết, nhiệm vụ chỉ có hai việc: định vị đúng dòng chứa thông tin, rồi đối chiếu xem phương án nào diễn đạt lại đúng dòng ấy. Mất điểm ở loại này gần như luôn là do làm tắt một trong hai việc đó.
Quy trình bốn bước — làm đúng thứ tự, đừng đảo
- Đọc câu hỏi trước, đọc hết câu hỏi. Chú ý các mốc định vị mà đề cho sẵn: According to paragraph 3, In the second paragraph, the writer says that…. Đề cho số đoạn tức là đề đã thu hẹp vùng tìm giúp ta, dùng ngay.
- Gạch từ khoá khó thay thế. Ưu tiên tên riêng, con số, năm, đơn vị đo, thuật ngữ — đó là những từ mà bài đọc thường giữ nguyên. Từ khoá là danh từ chung chung như people, change, problem gần như vô dụng để định vị.
- Định vị trong bài bằng cách quét theo từ khoá vừa gạch, không đọc lại cả bài. Khi tìm thấy, hãy đọc trọn câu chứa nó và thường phải đọc thêm câu ngay sau, vì thông tin trả lời hay bị tách làm hai câu.
- Đối chiếu paraphrase. Đáp án đúng gần như không dùng lại nguyên chữ của bài; nó viết lại bằng từ khác. Ngược lại, phương án nào chép y nguyên nhiều chữ của bài thì phải soi kỹ hơn, vì đó là chỗ đề hay đổi lén một chi tiết.
Bốn kiểu bẫy của câu chi tiết
| Kiểu bẫy | Nó làm gì | Ví dụ cách gài | Cách bắt |
|---|
| Đúng từ nhưng sai ý | Dùng lại đúng những chữ nổi bật của bài nhưng đổi một chi tiết nhỏ: con số, phủ định, mức độ | Bài viết rose by only a fifth, phương án viết rose by a fifth every year | So từng con số và từng từ phủ định với bản gốc, không so ấn tượng chung |
| Đúng ý nhưng sai đối tượng | Nêu một điều bài có nói, nhưng gán cho người, vật hoặc năm khác | Điều mà nhóm này làm lại được gán cho nhóm kia | Hỏi lại: chủ ngữ trong câu hỏi là ai, trong bài câu đó nói về ai |
| Có trong bài nhưng không trả lời câu hỏi | Phương án hoàn toàn đúng sự thật theo bài, chỉ tội là trả lời một câu hỏi khác | Câu hỏi hỏi vì sao, phương án lại nói khi nào | Đọc lại đúng chữ đầu của câu hỏi: why, when, how, what |
| Đảo chiều quan hệ | Giữ nguyên hai vế nhưng đổi chỗ nguyên nhân với kết quả, hoặc đổi trước thành sau | Bài viết họ bỏ nghề vì chi phí, phương án viết chi phí tăng vì họ bỏ nghề | Vẽ mũi tên: cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào |
Ba thói quen tách người làm nhanh với người làm đúng. Thứ nhất, không tin trí nhớ: đọc xong đoạn nào cũng phải quay lại chỉ đúng dòng, vì trí nhớ sau ba phút đã pha trộn các đoạn với nhau. Thứ hai, đọc hết bốn phương án rồi mới tô, kể cả khi phương án A trông đã đúng; bẫy sai đối tượng thường nằm ở phương án đứng trước phương án đúng. Thứ ba, đề hỏi cái gì thì trả lời cái đó: câu hỏi chi tiết không thưởng cho ai hiểu bài sâu hơn, chỉ thưởng cho người đọc kỹ hơn.
Ví dụ mẫu có lời chữa
Ví dụ 1. Đoạn trích: “The reading room opened in 2019 with two hundred titles. Three years later the collection had grown to five hundred, although the number of borrowers had barely changed.” Câu hỏi: According to the passage, between 2019 and 2022 the reading room ______. (A. lost some of its regular borrowers · B. added about three hundred titles · C. doubled the number of its borrowers · D. moved to a room three times larger)
Đáp án là (B) added about three hundred titles. Bước định vị rất nhanh vì câu hỏi cho sẵn hai mốc năm: ta tìm 2019 và cụm three years later. Bài viết mở cửa với hai trăm đầu sách và ba năm sau bộ sưu tập lên năm trăm, vậy phần tăng thêm là ba trăm, đúng như phương án (B) diễn đạt lại bằng từ khác. Phương án (C) doubled the number of its borrowers dính đúng kiểu bẫy đúng từ nhưng sai ý: bài có nhắc tới borrowers, nhưng nói ngược lại rằng số người mượn hầu như không đổi. Phương án (A) lại đẩy cái không đổi ấy thành giảm sút, tức thêm một bước mà bài không hề nói. Phương án (D) nói về diện tích căn phòng, một thông tin bài không đề cập; con số ba lần chỉ được mượn từ cụm three years later để làm ta thấy quen. Bài học rút ra: khi phương án nhắc lại một danh từ nổi bật của bài, hãy soi ngay xem động từ đi kèm có bị đổi không.
Ví dụ 2. Đoạn trích: “The morning shift is run entirely by retired teachers. The afternoon shift, which is busier, is staffed by university students, who are paid a small allowance.” Câu hỏi: According to the passage, which group receives money for the work? (A. The retired teachers on the morning shift · B. Both groups of helpers in the centre · C. The university students in the afternoon · D. Nobody working in either of the shifts)
Đáp án là (C) The university students in the afternoon. Câu hỏi hỏi ai được trả tiền, nên từ khoá định vị là paid. Cả đoạn chỉ có một chỗ nhắc tới tiền, đó là mệnh đề who are paid a small allowance, và mệnh đề ấy gắn với university students của ca chiều, không gắn với ai khác. Phương án (A) là kiểu bẫy đúng ý nhưng sai đối tượng, kiểu bẫy phổ biến nhất của câu chi tiết: nó lấy đúng việc có thật là có người được trả tiền rồi gán cho nhóm giáo viên nghỉ hưu, trong khi bài nói ca sáng do họ đảm nhiệm hoàn toàn mà không nhắc gì tới thù lao. Phương án (B) mở rộng ra cả hai nhóm, tức thêm thông tin bài không có. Phương án (D) phủ định thẳng câu chữ đang nằm ngay trong đoạn. Cách phòng bẫy: gạch chân chủ ngữ của câu chứa thông tin, rồi so với chủ ngữ trong từng phương án.
Ví dụ 3. Đoạn trích: “The pumps were replaced in March because the pipes had begun to leak. The new pumps are quieter, and residents no longer complain at night.” Câu hỏi: According to the passage, why were the pumps replaced? (A. Because the old ones made too much noise · B. Because the residents had complained at night · C. Because the pipes were losing water · D. Because the work had been planned for March)
Đáp án là (C) Because the pipes were losing water. Chữ đầu của câu hỏi là why, nên ta phải tìm câu nêu nguyên nhân chứ không phải câu nêu kết quả. Bài viết rất rõ: các máy bơm được thay vào tháng Ba because the pipes had begun to leak, và phương án (C) chỉ diễn đạt lại động từ leak thành losing water. Phương án (A) và phương án (B) đều dính kiểu bẫy đảo chiều quan hệ: tiếng ồn và lời phàn nàn ban đêm là hai thứ có thật trong bài, nhưng chúng nằm ở vế kết quả sau khi thay máy bơm, không phải lý do khiến người ta thay. Phương án (D) thuộc kiểu có trong bài nhưng không trả lời câu hỏi: tháng Ba đúng là mốc thời gian được nêu, song đó là trả lời cho câu hỏi when chứ không phải why. Thói quen cần luyện: khoanh tròn từ để hỏi trước khi đọc phương án.