Thi THPT · Môn Tiếng Anh · Điền từ vào văn bản

Collocation và cụm từ cố định trong văn bản thật

Làm 12 câu bài tập tương tác → Các bài khác môn Tiếng Anh

Học xong bài này bạn sẽ

Lý thuyết cần nắm

Trong 12 câu điền văn bản của đề tiếng Anh, nhóm câu về collocation là nhóm khó chữa nhất, vì nó không có quy tắc như ngữ pháp. Collocation là thói quen đi cùng nhau của các từ: người bản ngữ nói make progress chứ không nói do progress, nói heavy rain chứ không nói big rain. Cả bốn phương án của một câu collocation thường đúng ngữ pháp và đúng nghĩa từ điển; cái sai của ba phương án nhiễu chỉ nằm ở chỗ chúng không đi với từ bên cạnh.

Vì sao đề tốt nghiệp thích hỏi dạng này? Vì nó phân loại rất sạch. Học sinh học ngữ pháp thuộc lòng vẫn có thể chọn sai, còn học sinh đọc nhiều thì chọn đúng gần như tức thì. Ngoài ra collocation là thứ không tra được bằng cách dịch sang tiếng Việt: cả make, do, take đều dịch là “làm”, nên người dịch từng chữ chắc chắn mắc bẫy.

Các nhóm collocation hay ra đề

NhómKhuônVí dụ đúngCách nói SAI hay gặp
Động từ + danh từV + Nmake progress, take part, do homework, pay attention, raise awareness, set an example, hold a meeting, make a differencedo progress, make part, do attention, lift awareness
Tính từ + danh từAdj + Nheavy rain, heavy traffic, strong coffee, a wide range, a close friend, a common mistakebig rain, strong traffic, a long range, a near friend
Động từ + giới từV + prepsign up for, depend on, apply for, look forward to, take care of, consist ofsign up to, depend of, apply to a job, look forward for
Tính từ + giới từAdj + prepresponsible for, aware of, good at, interested in, famous for, capable ofresponsible of, aware for, good in, capable for
Cụm cố địnhkhông đổi được từ nàoin advance, keep in mind, as a result, on behalf of, in charge of, get in touch withon advance, hold in mind, in result, at charge of
Danh từ + danh từN + Nclimate change, waste sorting, class monitor, water bottleweather change, rubbish sorting đứng lẻ

Quy trình loại phương án trong ba bước

  1. Khoanh từ đứng cạnh chỗ trống. Với chỗ trống là động từ, từ quyết định là danh từ ngay sau nó; với chỗ trống là tính từ, đó là danh từ nó bổ nghĩa; với chỗ trống là giới từ, đó là động từ hoặc tính từ ngay trước.
  2. Ghép thử từng phương án với từ vừa khoanh, đọc thành tiếng trong đầu. Câu hỏi phải là “cặp này ta đã từng đọc thấy chưa”, chứ không phải “phương án này có nghĩa hợp lý không”. Ba nhiễu của câu collocation gần như luôn hợp lý về nghĩa.
  3. Nếu vẫn phân vân, kiểm tra lại bằng nghĩa và ngữ cảnh. Đây là bước phụ, dùng để chọn giữa hai cặp đều nghe quen, ví dụ giữa set an example (làm gương cho người khác noi theo) và give an example (nêu một ví dụ minh hoạ).

Phân biệt collocation với ngữ pháp — chỗ hay lẫn nhất

Câu ngữ pháp có luật: chọn sai thì chỉ ra được điều khoản bị vi phạm, chẳng hạn since đòi hiện tại hoàn thành, chủ ngữ số nhiều đòi động từ số nhiều. Câu collocation không có luật nào để viện dẫn, chỉ có thói quen dùng từ. Dấu hiệu nhận ra ngay từ bốn phương án: nếu bốn phương án là bốn dạng khác nhau của cùng một từ (go, went, has gone, will go) thì đó là câu thì; nếu là bốn từ khác nhau ở cùng một dạng (make, take, do, give) thì gần như chắc chắn đó là câu collocation, và lúc đó việc phân tích thì hay thể là vô ích.

Một lưu ý cuối: các cụm cố định như in advance, keep in mind, as a result phải học nguyên khối, kể cả mạo từ và giới từ bên trong. Đổi một chữ trong cụm là hỏng cả cụm, và đề rất hay ra đúng chỗ một chữ đó.

Ví dụ mẫu có lời chữa

Ví dụ 1. The volunteers _______ a great deal of effort into the recycling project last term. (A. made · B. put · C. did · D. gave)
Đáp án là (B) put. Cụm cố định ở đây là put effort into something, nghĩa là dồn công sức vào việc gì; danh từ effort khi đi cùng giới từ into chỉ nhận động từ put. Cách nhận ra: khoanh hai chữ ở hai bên chỗ trống là effortinto, rồi ghép thử từng phương án. Phương án (A) make an effort là một cụm có thật và rất hay gặp, nhưng nó không đi với into mà đi thẳng với động từ nguyên thể, kiểu make an effort to arrive on time; đưa made vào câu này là hỏng ở giới từ. Phương án (C) do effort không tồn tại, đây là lỗi lẫn do với make quen thuộc của người học Việt Nam. Phương án (D) give effort cũng không phải tiếng Anh chuẩn. Ghi nhớ theo cặp: put effort intomake an effort to, hai cụm gần nghĩa nhưng khác hẳn cấu trúc đi sau.
Ví dụ 2. The organising committee will _______ a meeting on Friday afternoon to check the final list. (A. do · B. hold · C. make · D. take)
Đáp án là (B) hold. Danh từ meeting đi với động từ hold khi nói về việc tổ chức một cuộc họp, đặc biệt trong văn bản trang trọng như thông báo của trường hay của một ban tổ chức; dạng thân mật hơn là have a meeting, nhưng phương án đó không có trong đề. Phương án (A) do a meeting không tồn tại, vì do chỉ đi với các việc thường nhật như do homework hay do the washing-up. Phương án (C) make a meeting là lỗi dịch thẳng “làm một cuộc họp”; make đi với những thứ được tạo ra như make a decision, make progress, chứ không đi với meeting. Phương án (D) take a meeting chỉ dùng trong tiếng Anh Mỹ ở nghĩa hẹp là nhận lời gặp ai đó, không phù hợp với ngữ cảnh nhà trường ở đây. Bốn phương án đều đúng ngữ pháp sau will, nên đây là câu kiểm collocation thuần tuý.
Ví dụ 3. We set off an hour earlier than usual because of the _______ traffic on Nguyen Trai Street. (A. strong · B. thick · C. heavy · D. large)
Đáp án là (C) heavy. Danh từ traffic chỉ nhận tính từ heavy khi muốn nói giao thông đông đúc, ùn tắc. Đây là nhóm tính từ cộng danh từ, nhóm mà tiếng Việt và tiếng Anh chia cắt thực tế theo hai cách khác nhau, nên dịch từng chữ là sai. Phương án (A) strong mang nghĩa mạnh nhưng chỉ đi với gió, cà phê hay mùi hương, ví dụ a strong windstrong coffee. Phương án (B) thick đi với sương mù hay khói, kiểu thick fog, chứ không đi với dòng xe. Phương án (D) large chỉ kích thước của vật đếm được, mà traffic lại là danh từ không đếm được nên kết hợp này không xuất hiện. Cách học hiệu quả nhất cho nhóm này là ghi nhớ theo chùm quanh một tính từ: heavy rain, heavy traffic, heavy snow, a heavy smoker.

Lỗi hay gặp

Lỗi hay gặp ở chương này

  • Dịch từng chữ từ tiếng Việt rồi ghép lại. Cả make, do, take, give đều dịch là “làm” nên người dịch máy móc sẽ viết do progress hay make homework. Collocation phải học theo cặp từ, không học theo nghĩa rời của từng từ.
  • Chọn phương án nào nghe hợp lý về nghĩa thay vì kiểm xem hai từ có đi với nhau không. Ba nhiễu của câu collocation gần như luôn hợp lý về nghĩa; điều duy nhất phân biệt chúng với đáp án là thói quen dùng từ của người bản ngữ.
  • Nhầm câu collocation thành câu ngữ pháp rồi mất thời gian phân tích thì và thể. Dấu hiệu phân biệt nằm ngay ở bốn phương án: bốn dạng của cùng một từ là câu ngữ pháp, bốn từ khác nhau ở cùng một dạng là câu collocation.
  • Đổi một chữ trong cụm cố định. Các cụm như in advance, keep in mind, as a result, on behalf of phải giữ nguyên cả giới từ lẫn mạo từ bên trong; đề rất hay khoét đúng cái chữ mà học sinh tưởng là thay được.
  • Quên rằng tính từ và động từ có giới từ riêng của nó. Responsible for nhưng capable of, sign up for nhưng look forward to. Học tính từ hay động từ mà không học kèm giới từ là mất điểm ở nhóm câu này.
  • Chọn được đúng cụm nhưng quên chia dạng của động từ cho khớp câu. Sau has phải là made chứ không phải make; sau to phải là dạng nguyên thể. Collocation quyết định chọn từ nào, ngữ pháp quyết định từ đó mang dạng gì.

12 câu bài tập của bài này

Vào làm bài tập →